* Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn 4 (1927-1975)Vào lúc 11 Giờ 30, ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Nam sau khi từ giã các binh sỉ đã tự kết liễu đời mình.* Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 4 (19??-1975 )Tướng Hưng đã được vinh danh “Anh Hùng An Lộc” trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc Bình long. Tướng Hưng đã tự sát vào tối ngày ngày 30.04.75 tại văn phòng riêng ở bộ chỉ huy phụ của Quân đoàn 4 (đồng thời là nơi gia đình Tướng Hưng tạm cư trú), sau khi nói lời từ giã với gia đình và bắt tay từ biệt tất cả quân sĩ bảo vệ bộ chỉ huy. Sau đó, ông đã quay vào văn phòng, khóa chặt cửa và tự sát bằng súng lục vào lúc 8 giờ 45 phút tối.* Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh (1933-1975)Sau khi nhận được lệnh phải đầu hàng, Tướng Vỹ đã tự sát bằng súng lục vào lúc 11 Giờ, ngày 30.04.75 tại tổng hành dinh ở Lai Khê.* Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh (1925-1975)Vào đêm ngày ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Hai đã tự sát tại trung tâm Ðồng Tâm.* Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn 2 (1928-1975)Thiếu Tướng Phú là người trách nhiệm trong cuộc hành quân triệt thoái quân dân khòi ba tỉnh Cao Nguyên, đã bị thất bại nặng nề và đau đớn nhất trong quân sử cận đại. Tướng Phú tự tử tại nhà vào ngày 30.04.75.* Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn (1940-1975)Ðại Tá Hồ ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Ðại Tá Cẩn đã bị quân cộng sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ.* Ðại Tá Ðặng Sĩ VinhVào lúc 2 giờ ngày 30.04.75, hai tiếng đồng hồ sau khi Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng, Ðại Tá Vinh, cùng gia đình gồm vợ và bảy người con đã tự tử bằng súng lục.* Trung-Tá Cảnh-Sát Nguyễn-Văn-LongTrung-Tá Cảnh-Sát Nguyễn-Văn-Long tuẩn tiết sáng 30-4-75 dưới chân tượng đài Thủy quân lục chiến.Những Vị Tướng đã rời Việt Nam trước ngày mất nước01. Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu, Tồng Thống kiêm Tư Lệnh Việt Nam Cọng Hoà. Lúc từ chức (ngày 21 tháng 4, 1975), ông tuyên bố là ông trở về quân đội để tiếp tục chiến đấu. Ngày 25,4,1975 ông Thiệu cùng ông Trần Thiện Khiêm rời Việt Nam trên một chuyến bay do Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ tổ chức.02 Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng Kiêm Tồng Trưởng Quốc Phòng – từ chức thượng tuần tháng tư 1975 và rời Việt Nam cùng lúc với Nguyễn văn Thiệu .03 Ðại Tướng Cao văn Viên, Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà.04 Trung Tướng Ðặng văn Quang, Phụ Tá An Ninh Quốc Gia, Phủ Tổng Thống.05 Trung Tướng Lê Nguyên Khang, Phụ Tá Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà.06 Trung Tướng Ðồng văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng, Tổng Tham Mưu, Kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.07 Trung Tướng Trần văn Trung, Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.08 Trung Tướng Phan Trọng Chinh, Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Quân Huấn.09 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, Quân Khu 1. Người hùng của chiến trường Thành nội Huế hồi Tết Mậu Thân 1968 và chiến trường Huế-Quảng Trị trong trận chiến Mùa Hè đỏ lửa 1972.10 Trung Tướng Nguyẽn văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3, Quân Khu 3.11 Trung Tướng Nguyẽn văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô.12 Trung Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 1.13 Thiếu Tướng Hoàng Lạc, Tư Lệnh Phó Quân Khu 1.14 Chuẩn Tướng Trần văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh.15 Thiếu Tướng Nguyễn duy Hinh, Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 Bộ Binh.16 Chuẩn Tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.17 Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù.18 Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.19 Phó Ðề Ðốc (Trung Tướng) Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân.20 Trung Tướng Trần văn Minh, Tư Lệnh Không Quân.21 Thiếu Tướng Võ xuân Lành, Tư Lệnh Phó Không Quân.22 Chuẩn Tướng Ðổ Kiến Nhiễu, Ðô Trưởng Sài Gòn.23 Thiếu Tướng Nguyẽn Khắc Bình, Tư Lệnh Cảnh Sát kiêm Ðặc Uỷ Trưởng Tình Báo Trung Ương, cùng các vị Tướng nắm giữ các ngành của lực lượng Cảnh Sát.Những Vị Tướng đã rời Việt Nam trong ngày mất nước :01 Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ, cựu Tư Lệnh Không, cựu Phó Tổng Thống. Những ngày cuối cùng, ông tuyên bố là sẽ rút về đồng bằng sông Cửu Long tổ chức tử thủ.02 Trung Tướng Vĩnh Lộc, nhận chức Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà lúc 3 giờ chiều 29.04.1975.03 Chuẩn Tướng Nhuyễn Hữu Tần, Tư Lệnh Sư Ðoàn 4 Không Quân, kiêm Tư Lệnh Không Quân từ ngày 29.04.1975.04 Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, nhận chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận lúc 5 giờ chiếu 29.04.1975. Khi nhận chức ông nói rằng: Nếu không xong thì ông xuống Cần Thơ đem Liên Ðoàn 7 Công Binh Kiến Tạo lên Thất Sơn (tỉnh Châu Ðốc) tổ chức chiến đấu.Những Vị Tướng đã bị Kẹt LạiNhững Vị bị Cộng Sản đày đọa trong các trại tù tập trung từ 12 năm đến 17 năm01 Trung Tướng Nguyễn vĩnh Nghi, Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Ðoàn 3 tại chiến trường Phan Rang, bị bắt khi thất thủ. http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Vĩnh_Nghi02 Chuẩn Tướng Phạm ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Ðoàn 6 Không Quân, bị bắt cùng Trung Tướng Nguyễn vĩnh Nghi khi chiến trường Phan Rang thất thủ.03 Chuẩn Tướng Trần văn Cẩm, Tư Lệnh Phó, Quân Ðoàn 2.04 Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn 3.05 Chuẩn Tướng Huỳnh văn Lạc, Tư Lệnh Sư Ðoàn 9 Bộ Binh.06 Thiếu Tướng Lê minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh.07 Chuẩn Tướng Mạch văn Trường, Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh.08 Thiếu Tướng Lý tòng Bá, Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh.09 Ðại Tá Nguyễn Ðình Vinh, Tư Lệnh Phó Quân Khu 4.10 Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng binh chủng Biệt Ðộng Quân.11 Chuẩn Tướng Phạm duy Chất, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2, chỉ huy cuộc hành quân rút bỏ tỉnh Cao Nguyên hồi tháng 3.1975.12 Ðại Tá Nguyễn Thành Trí, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.13 Ðại Tá Lê hữu Ðức, Quyền Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.14 Chuẩn Tướng Lê văn Thân, Tư Lệnh Phó Biệt Khu Thủ Ðộ. Nhận chức chiều 29.04.1975.15 Chuẩn Tướng Lê trung Trực, Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng.16 Ðại Tá Nguyễn xuân Hường, Tư Lệnh Lữ Ðoàn 1 Kỵ Binh.17 Ðại Tá Nguyễn đức Dung, Tư Lệnh Lữ Ðoàn 2 Kỵ Binh.18 Chuẩn Tướng Trần quang Khôi, Tư Lệnn Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh.19 Ðại Tá Trần ngọc Trúc, Tư Lệnh Lữ Ðoàn 4 Kỵ Binh.20 Thiếu Tưóng Trần bá Di, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.21 Chuần Tướng Vũ văn Giai, cựu Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 Bộ Binh.22 Chuần Tướng Lê văn Tư, cựu Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh.23 Thiếu Tướng Văn Thành Cao, Tổng Cục Phó Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.24 Thiếu Tướng Ðoàn văn Quảng, cựu Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt. Chết tại trại tù cải tạo Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh.25 Trung Tá Bùi thế Dung, Thứ Trưởng Quốc Phòng trong thành phần chánh phủ chưa kịp trình diện.26 Hải Quân Ðại Tá Nguyễn văn May, Tư Lệnh Vùng 5 Duyên Hải.27 Hải Quân Ðại Tá Nguyễn bá Trang, Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Nhiệm Thủy Bộ 211.28 Hải Quân Ðại Tá Nguyễn văn Tấn, Quyền Tư Lệnh Hải Quân vào những giờ cuối cùng.29 Thiếu Tướng Cảnh Sát Bùi văn Nhu, Tư Lệnh Phó Cảnh Sát. Chết tại trại tù cải tạo Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh.30 Cựu Thiếu Tướng Huỳnh văn Cao, Nghị Sĩ.31 Chuần Tướng Hồ trung Hậu, Binh Chủng Nhảy Dù, Chánh Thanh Tra Quân Ðoàn 3.32 Ðại Tá Nguyễn khắc Tuân nhận chức Tham Mưu Trưởng Tổng Tham Mưu chiều 29.04.1975. Chết tại trại tù cải tạo Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh.33 Ðại Tá Lại Ðức Chuẩn, Trưởng Phòng Nhất Tổng Tham Mưu34 Ðại Tá Phạm bá Hoa, Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.35 Ðại Tá Ngô văn Minh, Tham Mưu Trưởng Biệt Khu Thủ Ðô.36 Ðại Tá Vũ Ðức Nghiêm.Những Vị bị Cộng Sản đày đọa trong các trại tù tập trung trên 10 năm01 Cựu Trung Tướng Nguyễn hữu Có.02 Cựu Ðề Ðốc Trần văn Chơn.03 Cựu Thiếu Tướng Nguyễn chấn Á.04 Cựu Thiếu Tướng Phan Ðình Thứ, Tự Lam Sơn.05 Ðại tá Ðàm Trung Mộc cưụ Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát QG. Sau 30-4, ông bị giam tại Chí Hòa để rồi tháng 2/1976, ông bị đưa ra Vĩnh Phú rồi về Hà Tây, và ông mất tại đó vào ngày 14/11/1982, thọ 65 tuổi.Những Vị bị Cộng Sản bị giam chưa đến 3 năm01 Thiếu Tướng Quân Y Vũ ngọc Hoàn, cựu Cục Trưởng Cục Quân Y.02 Chuẩn Tướng Quân Phạm bá Thanh, Cục Trưởng Cục Quân Y.03 Ðại Tá Nguyễn văn Lộc, Tư Lệnh Sư Ðoàn 106 Biệt Ðộng Quân. Sư Ðoàn này thành lập vào những ngảy cuối tháng 4.1975 và bảo vệ vùng Phú Lâm, cửa ngõ phía Tây Sài Gòn. Thời gian trong tù chưa đến một năm.04 Ðại Tá Dương thanh Sơn, em ruột Tổng Thống Dương văn Minh.
menu
chuyên mục
Giới Thiệu
Nhiều người xem
-
Tình hình là vật giá ngày càng tăng, tuy nhiên để cho một số người đi Đà Lạt không khỏi ngỡ ngàng mình đăng bảng giá vé tham quan mới tăng t...
-
Giới thiệu một số Khách Sạn tại Bình Thuận (Mã vùng:84-62) Bamboo Village Beach Resort & Spa Địa chỉ: 38 Nguyễn Đình Chiể...
-
Hàng năm đều đặn đến mùa lúa chín, dân Phượt và dân nhiếp Ảnh lại đổ về các vùng cao, nơi có những cánh đồng ruộng bậc thang đẹp đến mê hồn....
-
Nếu như không cẩn thận, chuyến du lịch Bali, Indonesia, có thể đem đến cho bạn đầy thương tích hoặc bệnh tật, thay vì những kỷ niệm đẹp. Văn...
-
Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch cuối cùng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, là chiến dịch...
-
Du lịch Huế luôn hấp dẫn du khách bởi sự trầm mặc và cổ kính của một miền đất Cố Đô. Đến Huế bạn như lạc vào một xứ sở của xa xưa với những ...
-
Xin giới thiệu chùm ảnh về Tòa Thánh Tây Ninh vào thời gian trước đây Tòa Thánh Tây Ninh là một cụm công trình gồm nhiều kiến trúc tôn giáo...
-
Đây là chuyến đi xuất ngoại đầu tiên của mình, lần đầu đi du lịch nước ngoài mình chọn Cambodia. Vì đây là một đất nước thân thiện và gần Vi...
-
Biển Nha Trang từ lâu đã được biết đến là một trong 29 vịnh biển đẹp nhất trên Thế giới, được rất nhiều du khách thập phương ghé thăm hàng ...
-
Vịnh Vân Phong, nơi mà người Pháp từng gọi là Port Dayot (tức Bến Gối) thuộc địa phận hai huyện Vạn Ninh và Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; cách t...
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin 30-4. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin 30-4. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015
Những Vị Tướng VNCH đã Tự Sát 30/04/1975
Sẽ diễu binh nhân ngày thống nhất
Nhân 40 năm ngày thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2015), cùng với lễ mitting, diễu binh, diễu hành, pháo hoa nghệ thuật sẽ được tại 7 điểm với thời lượng 20 phút.
Các điểm bắn pháo hoa gồm: khu vực đường hầm sông Sài Gòn (quận 2); Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược (huyện Củ Chi); Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã Ba Giồng (huyện Hóc Môn); Khu di tích Láng Le – Bàu Cò (huyện Bình Chánh); Sân bóng đá huyện Cần Giờ; Công viên lịch sử - Văn hóa Dân tộc (quận 9) và Công viên Văn hóa Đầm Sen (quận 11).
Chương trình bắn pháo hoa sẽ do Bộ tư lệnh thành phố chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa cùng Tổng công ty Du lịch Sài Gòn thực hiện.
Mitting, diễu hành, diễu binh là nghi lễ quan trọng nhất trong các chương trình mừng 40 năm ngày thống nhất nước. Ảnh minh họa: Quý Đoàn. |
Trước đó, Thủ tướng đã phê duyệt Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước. Theo đó, các bộ, ngành trung ương sẽ chủ trì lễ mitting tại lễ đài ngã tư Lê Duẩn – Pasteur, Công viên 30/4 (quận 1). Thời gian tổng duyệt vào lúc 7h ngày 26/4 và chính thức diễn ra lúc 7h ngày 30/4, trong lễ mitting sẽ có tiết mục thả bong bóng và chim bồ câu.
Sau đó sẽ là lễ diễu binh, diễu hành với sự tham dự của khối nghi trượng, các khối diễu binh (các khối đi tay không, các khối đi có súng, có khí tài) và các khối diễu hành quần chúng.
Ngoài ra, từ 20h đến 22h ngày 30/4, TP HCM sẽ phối hợp với Bộ Văn hóa tổ chức chương trình biểu diễn nghệ thuật tại sân khấu khu vực trục đường Lê Duẩn (phía trước hội trường Thống Nhất).
Theo http://vnexpress.net/
Tour du lịch lễ 30-4
Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2015
Tin lễ 30-4: Buôn Ako Dhong (Buôn Ma Thuột- Daklak)
Buôn AKô Đhông hay buôn Cô Thôn, làng Ma Rin là một buôn làng người Ê Đê ở thành phố Buôn Mê Thuột, Đắk Lắk. AKô Đhông theo tiếng địa phương có nghĩa là buôn đầu nguồn có lẽ vì có rất nhiều con suối bắt nguồn từ khu vực này Như Ea giang, Ea Dung, Ea Ding, Ea pủi, Thun M’nung và đặc biệt là trong đó có cả con suối lớn nhất ở Buôn Ma Thuột là suối Ea Nuôl.
Nơi đây có thể xem như là một hình mẫu của một buôn làng người bản địa Tây Nguyên với những mái nhà dài truyền thống và một phong cảnh đẹp như tranh, hiện buôn AKô Đhông đang là một trong những điểm đến không thể thiếu trong tour du lịch đến với Ban Mê.
Buôn AKô Đhông có chừng 300 người sống trong khoảng 30 ngôi nhà dài xếp dọc theo con đường chính của buôn. Nhà dài của người Ê Đê là nơi sinh sống của nhiều thế hệ trong một đại gia đình theo chế độ mẫu hệ, nên ngôi nhà có thể dài từ 15m đến hơn 100m, tùy theo số lượng người. Cứ mỗi lần gia đình có con gái lấy chồng, ngôi nhà sẽ được cơi nới thêm chiều dài.
Nhà được xây dựng bằng vật liệu gỗ, tre, nứa lợp mái tranh. Có kết cấu cột kèo bằng gỗ tốt, các đà ngang, đòn dông luôn được đẽo bằng tay. Nhà được thưng vách và lót sàn bằng các phên nứa đập nát, mái lợp cỏ tranh rất dày. Đỉnh mái cách sàn nhà từ 4m đến 5m.
Bố cục nhà dài chia làm 2 phần: nửa phía trước gọi là “Gah” chứa các vật dụng như: ghế chủ, ghế khách, bếp chủ, ghế dài Kpan, cồng chiêng và là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung trong gia đình. Nửa phía sau là “Ôk” là chỗ ở của các đôi vợ chồng, đặt bếp nấu ăn chung.
Đến với AKô Đhông, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những ngôi nhà dài nổi tiếng, mà còn được khám phá và trải nghiệm một không gian văn hóa rất đặc trưng của đồng bào nơi đây.
Vị trí
Buôn Akô Đhông nằm ở cuối đường Trần Nhật Duật, phường Tân Lợi, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 2km về hướng Bắc.
Di chuyển
Từ Buôn Ma Thuột, đến buôn AKô Đhông, bạn có thể đi bằng taxi/xe ôm/thuê xe máy
Phương tiện cá nhân
Từ trung tâm thành phố theo đường Phan Chu Trinh, đến ngã tư Trần Nhật Duật, rẽ trái theo đường Trần Nhật Duật (đường đất, đường vào khách sạn Yang Sing) đi 500m là đến nơi.
Phương tiện công cộng
Taxi
- Taxi Mai Linh
Địa chỉ: Số 36 Ngô Gia Tự, Tp. Buôn Ma Thuột – Điện thoai: 05003.819.819
- Taxi Tây Nguyên
Địa chỉ: Số 318 Phan Bội Châu – Tp. Buôn Ma Thuột – Điện thoai: 05003. 838.838
- Taxi Đăk Lăk
Địa chỉ: Số 113 Lê Thánh Tông – Tp. Buôn Ma Thuột – Điện thoai: 05003. 818.181
Tour liên quan
Tour du lịch lễ 30-4: Buôn Ma Thuột- Gia Nghĩa (3 ngày 3 đêm)
Thứ Năm, 26 tháng 2, 2015
Tin lễ 30-4: Tịnh Xá Ngọc Ban (Buôn Ma Thuột- Daklak)
Tịnh xá được Ni sư Thích Nữ Hoa Liên xây dựng vào năm 1969 trên diện tích 1 ha 11 sào 58 m2 do ông Antoine Delpane, Tổng Giám đốc Công ty C.H.P.I. tại Buôn Ma Thuột hiến cúng. Lễ khánh thành được tổ chức trọng thể vào ngày 28 – 3 – 1970.
Đến năm 1999, ngôi tịnh xá bị hư hỏng nặng, Ni sư trụ trì Thích Nữ Hoa Liên đã tổ chức đại trùng tu vào ngày 25 tháng 2 năm Kỷ Mão, xây dựng ngôi chánh điện bát giác (theo truyền thống của Hệ phái Phật giáo Khất sĩ) gần 300m2 và các công trình khác như: trai đường, nhà khách, ni xá, động quả phúc thờ Bồ tát Di Lặc, ngọn ngũ hành thờ Bồ tát Quan Thế Âm… tạo nên một cảnh quan trang nghiêm, đẹp đẽ.
Vườn tịnh xá
Ngọc Ban là ngôi tịnh xá nổi tiếng của Ni giới Khất sĩ ở Cao nguyên. Chung quanh ngôi chánh điện là một vườn hoa đẹp, khoe sắc quanh năm.
Gốc cây thủy tùng vô cùng quý giá được một người kiểm lâm mua rồi hiến cho chùa. Nhà chùa đã phải tìm người đẽo tượng từ khắp nơi, hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến đẽo tượng Phật nhưng khi đụng dao búa vào đều gãy hết, chỉ có 1 nhóm thợ ở Hội An (Quảng Nam) là đẽo được. Sự kỳ lạ còn ở chỗ với các nhóm thợ khác thì cây rất cứng, nhưng với nhóm thợ này gỗ lại rất dễ đẽo, đẽo xong thì ngay lập tức cứng lại.
Kỳ lạ gốc cây thủy tùng tiền tỷ 2000 năm tuổi
Nghe câu chuyện kỳ lạ về gốc cây thủy tùng đã được đúc tạc thành bức tượng Phật đặt tại gian chính điện của tịnh xá Ngọc Ban (TP Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk), chúng tôi không khỏi ngạc nhiên và cảm thấy lý thú về những sự kỳ diệu xung quanh bức tượng này. Trò chuyện cùng chúng tôi, Ni sư Nhàn Liên là trụ trì tại tịnh xá Ngọc Ban này kể lại về nguồn gốc của gốc cây thủy tùng vô giá này. Sự vô giá của nó là bởi hiện tại cả Tây nguyên chỉ còn vài cây thủy tùng còn sống, mà mỗi cây có giá tới cả chục tỷ đồng.
Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Chừng 6-7 năm về trước, ở tận huyện Krông Năng, phía Đông Bắc tỉnh Đăk Lăk có một nhóm 4-5 người đồng bào Ê Đê hì hục đào một gốc cây to có đường kính tới 2m nằm lẩn sâu trong những lớp bùn đất. Gốc cây đó chỉ còn một phần thân nhưng rất lớn tới 3 người ôm mới hết. Lúc ấy tình cờ có người kiểm lâm đi ngang qua thấy, biết là cây gỗ quý hiếm nên đã ngỏ ý mua lại, và nhóm người dân tộc đồng ý bán với giá 10 triệu đồng. Ngay sau đó, người kiểm lâm thuê xe xúc, máy bơm rồi bơm nước xuống rồi hút bùn lên, để không ảnh hưởng tới rễ cây.
Sau đó thuê xe cẩu đến cẩu lên. Phải mất đến 2 ngày đào bới với sự hỗ trợ của máy móc hiện đại mới đưa được phần còn lại của cây thủy tùng lên mặt đất!”. Một sự lạ là khi đào được gần 4m sâu dưới lòng đất, khi cho xe cẩu tới mọi người đều nghĩ với một gốc cây như thế thì dễ dàng lấy lên được, vì xung quanh gốc chỉ là bùn nhão, rất dễ để cẩu cây thủy tùng lên mà không sợ ảnh hưởng tới rễ cây.
Thế nhưng chẳng hiểu sao năm lần bảy lượt cố gắng hết sức mà người lái xe cẩu không làm nhúc nhích chút nào gốc và phần thân còn lại của cây được, mà còn bị gãy trục cẩu nữa. Mọi người lại tiếp tục xúc, hút bùn lên, đào sâu tới hơn 8m, phải huy động tới hai chiếc xe cẩu khác mới đưa được cây thủy tùng rời lên được mặt đất.
Vợ người kiểm lâm này vốn là phật tử rất tín tâm, nhiều năm đi chùa lễ Phật biết chuyện nên nghĩ rằng gốc cây đặc biệt này phải có gì đó nên khuyên chồng hiến cúng lên nhà chùa, chứ bán đi thì uổng, mà nhà mình chưa chắc đủ phúc duyên giữ lại. Người kiểm lâm thấy vợ phân tích đúng quá nghe lời đã liên lạc với sư bà là cố Ni trưởng Thích Nữ Hoa Liên, Viện chủ Tịnh xá Ngọc Ban trước đây, mong được hiến cúng về Tịnh xá.
“Khi người kiểm lâm cho người chở phần còn lại của cây Thủy Tùng đến Tịnh xá, gốc cây có đường kính hơn 2m, và sư bà cũng như các ni sư lúc ấy nhìn thì thấy tạc tượng Quán Thế Âm Bồ Tát là hợp lí, mà phải là tượng đứng. Ông ấy cũng nói rằng vợ chồng ông ấy hiến cúng Tịnh xá gỗ quý, nhưng phải dùng để tạc tượng Quán Thế Âm Bồ Tát chứ không được dùng làm việc gì khác, nếu sư bà đồng ý thì vợ chồng ông ấy mới để lại. Nếu không, ông ấy dành hiến cúng tới chùa lớn. Thế rồi sư bà tiếp nhận và nói sẽ sớm tiến hành tạc thành bức tượng lớn để đặt ở chính điện cho phật tử đạo hữu tới chiêm bái!”, Ni sư Nhàn Liên kể lại.
Kỳ lạ bức tượng chọn người tạc đẽo
Nhận được gốc cây lớn vô cùng quý giá như thế, đích thân sư bà Ni trưởng Thích Nữ Hoa Liên lặn lội tới Gia Lai, rồi ra Hà Nội, tìm khắp các nơi thợ tạc tượng danh tiếng nhất rồi mời về. Lạ kỳ một điều là hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến nhưng đều lắc đầu trở về vì không làm được. Hỏi ni sư Nhàn Liên vì sao, ni sư trả lời:
“Hồi ấy sư bà mời thợ thuyền về đông lắm, dựng sạp dựng lều cho mọi người tạc tượng tránh mưa tránh nắng bên hông Tịnh xá này. Gốc cây thủy tùng nằm ở đó được dựng lên để các nhóm thợ tạc đẽo. Nhưng việc dựng được gốc cây này lên cũng gian trân lắm. Hai chiếc xe cẩu cỡ lớn được điều tới để dựng gốc cây lên nhưng mãi mà vẫn không được.
Cứ luồn dây cáp bằng thép vào để nâng lên thì cái thì đứt, cái thì tuột, rồi đang nâng lên nửa chừng thì bị chết máy. Nhiều người lấy làm lạ lắm nhưng không thể giải thích được vì sao. Sư bà phải đích thân lập đàn chay cúng nguyện mất một buổi, sau đó mọi sự mới thuận buồm xuôi gió. Lúc ấy chỉ cần một chiếc cẩu nâng lên rất nhẹ nhàng!”.
Thế nhưng việc tạc đẽo tượng lại tiếp tục xảy ra những sự cố. Khi các thợ bắt tay vào công việc thì chẳng hiểu sao búa đục cái thì gãy, cái thì mẻ hết. Gốc cây thủy tùng lúc ấy bỗng dưng cứng lại như đá, không thể nào đục đẽo được.
Hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến làm việc đều bị như thế cả. Chỉ cần đưa đục chạm vào gõ mấy cái thì y như rằng chiếc đục sẽ bị mẻ, dùi thì gãy, có người thì gõ cả vào tay. Biết bức tượng phật mà sư bà định tạc đẽo kén duyên người tạc, nên sư bà lại lặn lội đi khắp nơi tìm các nhóm thợ về thực hiện công việc. Sau đó, có người mách nước có một nhóm thợ ở Quảng Nam có tay nghề rất cao, thế là sư bà lặn lội tìm tới một xưởng gỗ ở Hội An tìm được một nhóm thợ nhận lời về Tịnh xá làm việc. Nhóm thợ này là 5-6 nghệ nhân, đều là những chàng trai trẻ độ tuổi 20-22 tuổi, chưa ai lập gia đình.
Về Tịnh xá, họ sớm bắt tay vào tạc tượng. Họ còn trẻ, nên vừa làm việc hăng say, vừa bật nhạc, hát hò vui nhộn. Các ni sư cũng hiểu, cùng trợ duyên cho họ, thêm động lực chuyên tâm công việc. Gỗ cây thủy tùng lúc ấy chẳng hiểu vì sao lại mềm như nến sáp, chỉ cần dùng dao nhỏ cũng gọt được nên chừng 2 tháng sau, bức tượng hoàn thành theo bản thiết kế của những nghệ nhân.
Nhưng, lúc ấy khuôn mặt tôn tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát trông na ná những hình tượng bên Đài Loan, sư bà không chịu nên đã tìm hình ảnh tôn tượng Ngài trông thật Việt Nam và yêu cầu sửa lại, rồi công việc cũng thành tựu như ý.
Công việc vừa hoàn tất thì bức tượng nhanh chóng “đóng băng”, rắn hơn đá hoa cương không có gì đục lại được. Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Quả thật việc đục tạc tôn tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là một công việc đầy khó khăn, trải qua nhiều công đoạn và hầu như lúc nào cũng có những sự việc lạ kỳ. Có lẽ vì chữ duyên với bức tượng như thế này nên không phải ai cũng hiệp tâm làm được. Từ một gốc cây thủy tùng như thế, giờ thành một bức tượng vô cùng đẹp đẽ và quý giá như thế này quả là một kỳ công!”
Ni sư Nhàn Liên cho biết, khi nhà chùa nhận gốc cây này về, có người bên kiểm lâm đã tới tìm hiểu và đánh giá về tuổi của gốc cây này, mọi người đều trầm trồ và ngạc nhiên khi nhóm kiểm lâm giám định gốc cây thủy tùng này cũng đến hơn 2000 năm tuổi. Mà theo kinh điển Phật giáo, cây gỗ có tuổi như vậy thì đã được “thọ thần”. Chính vì thế việc tạc đẽo tượng cũng lắm sự lạ kỳ không thể lý giải được.
Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Từ khi tôn tượng Quán Thế Âm Bồ Tát hoàn thành được đặt tại chính điện của Tịnh xá Ngọc Ban này, đại chúng thập phương đến chiêm bái ngày càng thêm đông, ngưỡng vọng thành tâm cầu nguyện, và có nhiều sự linh ứng, ai cầu gì đều được Ngài phù hộ, ứng nghiệm ngay.
Sức mạnh từ bi độ nguyện nơi Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cảm ứng tới rất nhiều người, mà chỉ tự thân mỗi người với tất cả tâm lòng thành kính cảm nhận được những linh ứng và sự kỳ diệu!”. Hiện tại, bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng cây gỗ thủy tùng này được đặt tại Tịnh xá Ngọc Ban, tại gian chính điện từ lúc hoàn thành đến nay. Ni sư Nhàn Liên cho biết, nhiều lần có một số người đến thương lượng mua lại bức tượng này với giá vài tỷ đồng, nhưng đây là quà tặng của chùa nên không được phép bán.
Nói đến chuyện liệu có bị trộm mất hay không, ni sư Nhàn liên cười cho biết có mấy lần vì muốn dịch chuyển tượng sang một chút để lau chùi, sửa sang lại mái nhà đều không được dù đã huy động cả chục người đàn ông lực lưỡng đến. Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Rất có thể những hiện tượng lạ từ gốc cây thủy tùng nghìn năm tuổi này có được ấy là do đã được thần hóa, qua mấy nghìn năm trải nắng mưa và qua biết bao đời người đã chứng kiến được những điều kỳ lạ nên “thọ thần”. Các nhà khoa học có đến tìm hiểu về gốc cây và cả bức tượng này nhưng đều chưa đưa ra được kết luận vì sao gốc cây có lúc cứng như đá, có lúc lại mềm như sáp.
Chuyện một gốc cây có tuổi đời 2000 năm với vô vàn những điều kỳ bí xung quanh việc tạc thành bức tượng Phật vẫn được người dân nơi đây truyền tai nhau, và với sự linh thiêng kì diệu đó, mỗi người khi đến chiêm bái bức tượng này đều tự dặn lòng mình phải sống từ bi hơn, làm nhiều việc thiện hơn để cuộc sống được thanh thản.
Tour liên quan
Tour du lịch lễ 30-4: Buôn Ma Thuột- Gia Nghĩa (3 ngày 3 đêm)
Nhãn:
Buôn Ma Thuột,
Dak Lak,
điểm du lịch 30-4,
đường đi tịnh xá ngọc ban,
Khác,
Tây Nguyên,
Tin 30-4,
tịnh xá có tượng hóa đá,
tịnh xá ngọc ban,
tượng phật hóa đá
Tin lễ 30-4: Mộ Vua săn voi Khunjunop (DakLak)
Nói đến Bản Đôn (Đắk Lắk) là người ta nghĩ đến voi. Voi đã làm nên “văn hóa voi” độc đáo, cũng như những huyền thoại kỳ thú về “Vua săn voi” Khun Ju Nốp, về những dũng sỹ săn voi (Gru)...Huyền thoại “Vua săn voi’
Ở xã Krông Na, huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk) hiện có một khu nghĩa địa nhỏ với những ngôi mộ được xây cất rất “hoành tráng”, nằm trong một khu rừng thưa, bên cạnh con đường mòn đã được lát xi măng. Hầu hết những ngôi mộ ở đây đều rất cũ, xây cất công phu theo nhiều phong cách kiến trúc khác nhau: Kiến trúc của người Ê Đê, M’nông... Điều đặc biệt nữa là không phải người nào trong vùng khi khuất núi cũng được an táng ở đây. Khu nghĩa địa này chỉ dành riêng cho những Gru (dũng sỹ săn voi) nổi tiếng của Bản Đôn.
Mộ của “Vua săn voi” – Khun Ju Nốp nằm ở vị trí trung tâm khu nghĩa địa cũng chứng tỏ được đẳng cấp của ông trong số những Gru nổi tiếng của Bản Đôn. Già Ama Kông nổi tiếng của Bản Đôn, là cháu ngoại của Khun Ju Nốp kể: “Vua săn voi” tên thật là Y Thu K’nul. Ông sinh năm 1828, mất năm 1938, thọ 110 tuổi. Ông là một trong những người quan trọng nhất, đã khai phá và sáng lập ra Bản Đôn cùng nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng và là vị tù trưởng nổi tiếng nhất của Bản Đôn (Bản Đôn là cách gọi của người Lào, còn người Ê Đê gọi là Buôn Đôn). Khi còn sống, ông là người có ảnh hưởng lớn, có tiếng nói quan trọng nhất trong cộng đồng các dân tộc Ê Đê, M’nông, J’rai... cùng chung sống ở vùng Bản Đôn, bên dòng Sêrêpốk huyền thoại.
Vua săn voi” đã săn bắt được hơn 400 con voi, trong đó có nhiều con voi đực một ngà. Đặc biệt, ông săn được con voi đực màu trắng. Theo luật tục, chỉ có các bậc vua chúa mới được sử dụng voi trắng, nên ông đem con voi này biếu cho vua nước Xiêm La và được ông vua này phong tặng danh hiệu Khun Ju Nốp – nghĩa là “Vua săn voi”. Từ đó, ông trở thành “Vua săn voi” của Bản Đôn. Cho đến nay, không một Gru nào ở Bản Đôn vượt qua ông về số lượng voi săn được và cả về số voi quý (voi trắng, voi một ngà…).
Mặc dù là “Vua săn voi”, lại thọ đến 110 tuổi, nhưng Khun Ju Nốp lại không có con trai nối dõi. Sau khi chết, ông được các cháu ngoại tổ chức xây ngôi mộ bề thế nằm ở trung tâm nghĩa địa của các Gru. Khác với những ngôi mộ bề thế của các Gru ở xung quanh, ngôi mộ của Khun Ju Nốp được xây rất lớn, nhưng lại không có các họa tiết rườm rà cùng các bức tượng chim công, ngà voi sặc sỡ. Ngôi mộ hình vuông lớn ấy được cho là pha trộn các phong cách kiến trúc của Lào, Campuchia và các dân tộc Ê Đê, M’nông.
Ngôi nhà cổ của Khun Ju Nốp
Sinh thời, Khun Ju Nốp sống trong ngôi nhà sàn lớn nhất vùng Bản Đôn, nằm ở buôn Trí A, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn. Tuy nhiên, ít ai biết rằng ngôi nhà không phải do “Vua săn voi” tự xây dựng mà là do ông mua lại của một người trong dòng họ. Trước đó, người chủ cũ của ngôi nhà cũng mua lại của một nhà giàu có trong vùng. Vì vậy, trước khi “Vua săn voi’ trở thành chủ sở hữu của ngôi nhà thì không ai biết là nó được xây dựng từ năm nào. Theo người già trong vùng, chỉ tính mốc từ khi Khun Ju Nốp là chủ sở hữu cho đến nay, thì ngôi nhà đã có tuổi thọ khoảng 130 năm.
Ngôi nhà sàn hơn 100 năm tuổi của “Vua săn voi” Khun Ju Nốp
Cũng theo già Ama Kông, ngôi nhà được Khun Ju Nốp mua với giá “bằng 12 con voi đực có cặp ngà lớn”. Sau khi làm chủ ngôi nhà, “Vua săn voi’ đã làm lễ cúng tốn hết 22 con trâu đực lớn, hàng chục con heo, hàng trăm ché rượu cần… Nguyên bản ngôi nhà gồm 3 gian, được làm hoàn toàn bằng gỗ quý. Khác với nhà dài truyền thống của người Ê Đê, M’nông trong vùng, ngôi nhà cổ này có tới 3 mái nhọn, mỗi gian có một mái riêng. Để lợp phần mái, người ta đã phải công phu đẽo hàng chục nghìn miếng gỗ cà chít (một loại gỗ tốt) để làm vật liệu lợp. Tính ra, chỉ riêng phần mái đã tiêu tốn khoảng 10 m3 gỗ cà chít.
Sau khi Khun Ju Nốp qua đời, do không có con trai nối dõi nên ngôi nhà được giao lại cho Ama Kông, cháu ngoại của “Vua săn voi”. Ama Kông cũng là một Gru nổi tiếng chỉ xếp sau Khun Ju Nốp. Ama Kông đã từng săn được 298 con voi và là người có số voi săn nhiều chỉ thua Khun Ju Nốp. Năm 1954, ngôi nhà bị cây me lớn bên hiên đổ xuống đè sập mất một gian và cho đến nay những người trong gia đình Ama Kông vẫn chưa có điều kiện tu sửa lại nên nó được giữ nguyên hiện trạng. Hiện ngôi nhà là một điểm du lịch thuộc Trung tâm Du lịch sinh thái văn hóa Bản Đôn.
P/s:Bạn Quan Jun bổ sung thêm 1 số thông tin
*Chính Y Thu K'nul và nữ tù trưởng H' Wăm đã biến Bản Đôn thành 1 một buôn làng giàu mạnh, độc đáo và nổi tiếng. Bản Đôn trở thành 1 trong những buôn làng săn bắt và thuần dưỡng voi rừng có 1 không 2 ở Đông Nam Á *.*
*Người ta gọi "voi trắng" là "Bạch Tượng"
*Ngôi nhà Lào cổ được xây dựng năm 1883, tính đến nay, ngôi nhà này đã được 128 tuổi :O
*Lăng mộ hình chóp bên cạnh mộ hình vuông của vua săn voi được vua Bảo Đại lên idea và desig
Tour liên quan
Tour du lịch lễ 30-4: Buôn Ma Thuột- Gia Nghĩa (3 ngày 3 đêm)
Nhãn:
Buôn Ma Thuột,
công việc săn voi,
Dak Lak,
điểm du lịch 30-4,
lịch sử người săn voi,
Mộ vua săn voi,
Tây Nguyên,
Tin 30-4,
truyền thuyết vua săn voi,
voi rừng,
vua săn voi
Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015
Tin lễ 30-4: Hồ Hoàn Kiếm(Hà Nội)
Tên gọi Hoàn Kiếm xuất hiện vào đầu thế kỷ 15 gắn với truyền thuyết vua Lê Thái Tổ trả gươm báu cho Rùa thần. Tên hồ được lấy để đặt cho một quận trung tâm của Hà Nội (quận Hoàn Kiếm) và là hồ nước duy nhất của quận này cho đến ngày nay.
Hồ Hoàn Kiếm có vị trí kết nối giữa khu phố cổ gồm các phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Cầu Gỗ, Lương Văn Can, Lò Sũ... với khu phố Tây do người Pháp quy hoạch cách đây hơn một thế kỷ là Bảo Khánh, Nhà Thờ, Tràng Thi, Hàng Bài, Đinh Tiên Hoàng, Tràng Tiền, Hàng Khay, Bà Triệu.
Lịch sử
Cách đây khoảng 6 thế kỷ, dựa theo bản đồ thời Hồng Đức thì phần lớn xung quanh kinh thành khi ấy là nước. Hồ Hoàn Kiếm là một phân lưu sông Hồng chảy qua vị trí của các phố ngày nay như Hàng Đào, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Hàng Chuối. Tiếp đó đổ ra nhánh chính của sông Hồng . Nơi rộng nhất phân lưu này hình thành nên hồ Hoàn Kiếm hiện nay.
Thời Lê Trung hưng (thế kỷ 16), khi chúa Trịnh cho chỉnh trang Hoàng thành Thăng Long để vua Lê ở đã đồng thời xây dựng phủ chúa riêng nằm ngay bên ngoài Hoàng thành và trở thành một cơ quan trung ương thời bấy giờ với những công trình kiến trúc xa hoa như lầu Ngũ Long (dùng để duyệt quân) nằm ở bờ Đông hồ Hoàn Kiếm, đình Tả Vọng trên đảo Ngọc Sơn . Năm 1728 Trịnh Giang cho đào hầm ở vị trí phía Nam hồ để xây dựng cung điện ngầm gọi là Thưởng Trì cung .
Chúa Trịnh cho ngăn hồ lớn thành hồ Tả Vọng và Hữu Vọng. Hồ Hữu Vọng được dùng làm nơi duyệt quân thuỷ chiến của triều đình. Đến đời Tự Đức (1847-1883), hồ Hữu Vọng được gọi là hồ Thủy Quân, còn hồ Tả Vọng chính là hồ Hoàn Kiếm. Từ năm 1884, nhà nước bảo hộ Pháp cho lấp hồ Thuỷ Quân để xây dựng, mở mang Hà Nội .
Truyền thuyết
Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi có chép:
Khi ấy Nhà vua cùng người ở trại Mục sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ), nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:
- - Sắt nào đây?
Thận nói:
- - Đêm trước quăng chài bắt được.
Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ "Thuận Thiên", cùng chữ "Lợi".Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài-dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:
- - Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!
Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh. Tới hôm sau, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra.
Truyền thuyết này được đưa vào nội dung sách giáo khoa của Việt Nam và được viết tiếp đoạn sau, nói về việc Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu, xông pha chém địch nhiều trận, cuối cùng đuổi được quân Minh, lên làm vua.
Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Tả Vọng. Nhận lệnh Long Quân, rùa nổi lên mặt nước.
Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Đứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm bên người tự nhiên động đậy.
Rùa tiến về thuyền vua và nói
- - Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!
Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước.
Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm
Di tích liên quan
- Tháp Rùa: nằm ở trung tâm hồ, được xây dựng trong khoảng từ giữa năm 1884 đến tháng 4 năm 1886, trên gò Rùa và chịu ảnh hưởng kiến trúc Pháp [13]. Tháp hình chữ nhật. Tầng một: chiều dài 6,28 mét (của 2 mặt hướng Đông và Tây), mỗi mặt có 3 cửa. Chiều rộng 4,54 mét, mỗi mặt có 2 cửa. Các cửa đều được xây cuốn, đỉnh thuôn nhọn. Tầng hai: chiều dài 4,8 mét, rộng 3,64 mét và có kiến trúc giống như tầng một. Tầng ba: chiều dài 2,97 mét, rộng 1,9 mét. Tầng này chỉ mở một cửa hình tròn ở mặt phía Đông, đường kính 0,68 mét, phía trên cửa có 3 chữ Quy Sơn tháp (tháp Núi Rùa). Tầng đỉnh có nét giống một vọng lâu, vuông vức, mỗi bề 2 mét.
- Đảo Ngọc Sơn: nằm ở phía Bắc hồ, xưa có tên là Tượng Nhĩ (tai voi). Vua Lý Thái Tổ đặt tên là Ngọc Tượng khi dời đô ra Thăng Long và đến đời Trần thì đảo được đổi tên là Ngọc Sơn. Một nhà từ thiện tên là Tín Trai đã lập ra đền Ngọc Sơn trên nền cung Thuỵ Khánh cũ (bị Lê Chiêu Thống cho người đốt năm 1787 để trả thù các chúa Trịnh). Đền Ngọc Sơn thờ thầnVăn Xương là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo.
- Cầu Thê Húc: dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, do danh sĩ Nguyễn Văn Siêu cho xây dựng vào năm 1865. Tên của cầu có nghĩa là "nơi đậu ánh sáng Mặt Trời buổi sáng sớm"

- Tháp Bút: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ năm 1865, bao gồm năm tầng. Trên đỉnh là tượng trưng cho một ngòi bút đối lên trời, phần thân có khắc ba chữ Tả Thanh Thiên (viết lên trời xanh), thân tầng thứ ba của tháp có khắc một bài Bút Tháp Chí.
- Đài Nghiên: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ năm 1865, là phần không thể thiếu của Tháp bút. Ba chân kê nghiên là hình tượng ba con cóc. Trên thân nghiên khắc một bài Minh, gồm 64 chữ Hán.
- Tháp Hoà Phong: trên bờ hướng Đông hồ, là di vật còn sót lại của chùa Báo Ân (bị dỡ bỏ năm 1898) . Tháp cao ba tầng, cửa theo bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, có các chữ Hán như: Báo Đức môn, Báo Ân môn, Hoà Phong tháp, Báo Thiên tháp, ứng với mỗi cửa của tháp. Tầng một to và cao hơn hai tầng trên cùng. Bốn mặt của tầng hai hình Bát quái. Tầng ba ghi "Hòa Phong Tháp".
- Đền Bà Kiệu: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng, là một di tích hoàn chỉnh nhưng do việc mở đường nên đã tách làm hai phần, Tam quan ở sát bờ hồ, còn Đền thờ ở về phía bên này đường. Toạ lạc theo hướng Nam. Tam quan và Đền thờ (Nhà đại bái) đều có kiến trúc ba gian xây gạch, lợp mái ngói ta. Ngôi đền thờ ba vị nữ thần là Liễu Hạnh công chúa, Đệ nhị Ngọc nữ và Đệ tam Ngọc Nữ.
- Nhà Thuỷ Tạ: trên mặt bờ hồ hướng Tây Bắc, là một loại hình kiến trúc quan trọng và đặc sắc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam, là địa điểm diễn ra các lễ của Hoàng triều hoặc thờ cúng Thần linh hay các vị Hoàng đế. Ngoài ra, Nhà Thuy Tạ còn là chốn phục vụ nhu cầu ăn chơi cho tầng lớp thống trị, hậu cung, ly cung, biệt cung... có kiến trúc tương đối đơn giản, được xây dựng bên bờ mặt nước như hồ, ao, sông, suối.
- Đền thờ vua Lê: ở bờ Tây hồ, áp với đình Nam Hương. Đền có tượng vua Lê Thái Tổ đứng trên trụ cao, tay cầm thanh kiếm như phóng xuống mặt hồ.
Hệ sinh vật hồ
Rùa
Rùa hồ Gươm có tên khoa học là Rafetus leloii, họ Ba Ba (Trionychidae) trong bộ Rùa (Testudies), lớp Sauropsida (Mặtthằn lằn). Rùa hồ Gươm gồm có bốn cá thể, trong đó một cá thể còn sống trong hồ và ba cá thể đã chết (một được lưu trong đền Ngọc Sơn, một lưu trong kho của Bảo tàng Hà Nội và một đã bị giết thịt năm 1962 - 1963 khi bò lên vườn hoa Chí Linh).
Là loài rùa lớn sinh sống trong Hồ Gươm. Ngày trước rùa Hồ Gươm rất hiếm khi nổi lên mặt nước. Truyền rằng mỗi lần rùa nổi đều liên quan đến những việc quốc gia đại sự.
Là di sản vô giá gắn với những truyền thuyết lịch sử và văn hoá linh thiêng từ hàng ngàn năm nay, hiện rùa hồ Gươm thuộc diện động vật quý hiếm đang được nhà nước bảo vệ.
Năm 2011, rùa hồ Gươm, được biết chỉ còn một cá thể sống sót, thường được gọi là "Cụ Rùa" đã được trục vớt và trị chữa các vết thương.
Cảm hứng nghệ thuật
Tuy không phải là hồ lớn nhất trong thủ đô, song hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người. Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khuphố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Hồ có nhiều cảnh đẹp.
Và hơn thế, hồ gắn với huyền sử, là biểu tượng khát khao hòa bình (trả gươm cầm bút), đức văn tài võ trị của dân tộc (thanh kiếm thiêng nơi đáy hồ và tháp bút viết lên trời xanh). Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ đã lấy hình ảnh Hồ Gươm làm nền tảng cho các tác phẩm của mình.
Hồ cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà nhiếp ảnh, trong đó nổi tiếng nhất là lão nghệ sĩ Võ An Ninh
Thơ văn
Nguyễn Khuyến xưa có bài thơ vịnh Hà Thành và Hồ Gươm biến dạng cách đây 100 năm như sau:
- Cảm-đề
- Ba chục năm nay trở lại hồ
- Bây giờ cảnh-sắc khác ngày xưa
- Nhà tranh đâu cả, toàn lầu gác
- Súng lạ đì-đòm tịt trúc tơ
- Chim-chóc đi về lầm lối cũ
- Cốc cò chiều tối ngủ sương mưa
- Đáng thương văn-vật trăm năm ấy
- Còn lại bên hồ một đá trơ!
Nguyễn Khuyến
- Hà Nội
- ...
- Hà Nội có Hồ Gươm
- Nước xanh như pha mực
- Bên hồ ngọn Tháp Bút
- Viết thơ lên trời cao
Trần Đăng Khoa - 1969
- Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ,
- Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
- Đài nghiên, tháp bút chưa mòn,
- Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
Á Nam Trần Tuấn Khải
Nghiên Bút Non Sông(Nhạc và lời: Đình Dương) Hãy viết lên trời cao hỡi Tháp bút kiêu hùng Kiêu hãnh ơi Việt Nam anh dũng kiên cường Khí phách đó Hồ Gươm xanh thắm đến muôn đời Chiến tích xưa còn ghi thanh kiếm vẫn sáng ngời...
Âm nhạc
- Hà Nội niềm tin và hy vọng
- (Nhạc và lời: Phan Nhân)
- Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời
- Càng toả ngát hương thơm hoa thủ đô
- Đường lộng gió thênh thang năm cửa ô
- Nghe tiếng cười không quên niềm thương đau...
- Theo wikipedia
Tour du lịch lễ 30-4: Hà Nội- Tràng An- Bái Đính-Hạ Long-Yên Tử(4 ngày 3 đêm)
Tour liên quan:
Nhãn:
du lịch hà nội,
du lịch hồ hoàn kiếm,
điểm du lịch 30-4,
Hà Nội,
Hồ Gươm,
Khác,
lịch sử hồ hoàn kiếm,
Miền Bắc,
Tin 30-4,
truyền thuyết hồ hoàn kiếm
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









