menu

chuyên mục

Giới Thiệu

Nhiều người xem

Hiển thị các bài đăng có nhãn Kon Tum. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kon Tum. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

Đèo Lò Xo ở Dak Glei (Kon Tum)


Đèo Lò Xo dài 20km thuộc địa phận làng Măng Khen, xã Đăk Man, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum. Đèo nằm trên tuyến đường quốc lộ 14 (HCM) từ Quảng Nam đi Kontum. Phía bắc đèo Lò Xo là thị trấn Khâm Đức (thuộc huyện Phước Sơn, Quảng Nam), qua đèo Lò Xo sẽ vào địa phận các tỉnh Tây Nguyên gồm Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk.




Trong lịch sử, đèo Lò Xo là căn cứ chiến lược quan trọng của quân và dân ta, điểm trung chuyển lương thực, vũ khí phục vụ cho chiến trường miền Nam - Tây Nguyên. Trong chiến tranh chống Pháp, đèo Lò Xo từng nổi tiếng bởi nhà tù Đăklei (nơi từng giam giữ nhà thơ Tố Hữu) và những người tù chính trị vượt ngục. Nhưng nổi tiếng hơn cả là những câu chuyện đường rừng với voi đi cả đàn, hổ báo chạy thậm thịch ngày đêm.



< Đường Hồ Chí Minh uốn lượn trong sương mù trên đỉnh đèo Lò Xo (huyện Đắk Glei).

Đến thời kháng chiến chống Mỹ, đèo Lò Xo là trọng điểm vô cùng ác liệt. Tại đây, địa hình hiểm trở, đường đèo dốc quanh co uốn lượn trên các ngọn núi, không có ngày nào máy bay Mỹ không đánh phá hòng cắt đứt tuyến giao thông huyết mạch nối hậu phương lớn miền Bắc với chiến trường miền Nam.

Cũng vì sự ác liệt của đạn bom, sự thương vong quá lớn của các đơn vị quân đội và thanh niên xung phong mà đèo Lò Xo được mệnh danh là “cối xay thịt”. Những địa danh Asò, P’rao, P’Giằng, Khâm Đức (Quảng Nam), Đăk Glei, Đăk Tô (Kon Tum) được biết đến như những “tọa độ chết” bởi gần 4 triệu tấn bom đạn Mỹ từng đã thả xuống đây.



< Thác nước trước khi đến đèo, cầu vượt thác nên cũng mang tên 'Cầu Thác Nước'.

Khi hòa bình lập lại, nhận thấy vị trí quan trọng nên nhà nước đã đầu tư xây dựng tuyến đường Hồ Chí Minh (QL14) một cách bài bản, hoành tráng và trở thành tuyến đường huyết mạch phát triển kinh tế miền Trung – Tây Nguyên mà trong đó có đèo Lò Xo cũng là điểm phân ranh giữa hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam.

Ngoài ra, đèo Lò Xo còn là điểm giao thoa giữa hai vùng khí hậu Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn nên lúc nào cũng có mưa hoặc sương mù ẩm ướt quanh năm.



Đường Hồ Chí Minh từ Khâm Đức sang Đăk Glei qua đèo Lò Xo hôm nay không còn khó khăn như trước, không còn đá hộc hay cỏ cây um tùm nhưng con đèo vẫn đúng như tên gọi. Dù đèo vẫn ngoằn ngoèo cong như cánh cung, thoắt ngoặt gấp khúc tay áo, quanh co xoắn như lò xo lướt qua chân dãy núi Ngọc Linh, xuyên qua vườn quốc gia Ngọc Linh hùng vĩ với xung quanh là rừng già thâm u.

Đèo Lò Xo không quá dốc nhưng có những khúc cua rất nguy hiểm vì rào chắn thấp và vực sâu, đây cũng là nguyên nhân của nhiều tai nạn đáng tiếc xảy ra trên đoạn đèo này. May mắn là ngày nay, đèo đã được xây dựng 2 đường lánh nạn, trong đó có đoạn lánh nạn tại Km 1411. Nhiều tường hộ lan 2 tầng được hoàn thành, góp phần hạn chế tai nạn giao thông ở khu vực này.



Cảm giác khi vượt đèo Lò Xo bằng xe đạp...

< Đồi núi chập chùng nhìn từ đèo Lò Xo.

Nếu ai đã nghĩ đèo Hải Vân nối liền giữa Đà Nẵng – Huế là con đèo hiểm trở và quanh co nhất thì hãy biết rằng nó chỉ bằng một phần của đèo Lò Xo ở Kontum. Chúng tôi đã có cơ hội tận mục sở thị nó, cũng thật không thể tin nổi khi chính chúng tôi đã chinh phục nó một cách ngoạn mục. Những ai ở ngoài cuộc khó có thể hình dung nổi sự hùng vĩ của đèo Lò Xo cũng như trải nghiệm cảm giác chinh phục nó bằng xe đạp như thế nào.



Cảnh vật xung quanh làm ta có cảm giác nơi đây cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, sóng điện thoại mất, rừng cây u ám, núi cao rồi lại núi cao chập chùng, địa hình bị chia cắt rất mạnh. Những con dốc dài và thoải, con dốc nào ngắn nhất cũng khoảng 300m, chủ yếu là 700 – 800m và cao 10%, vô cùng quanh co. Thả dốc mà cảm giác cứ như ngàn cân treo sợi tóc, mới nhìn thôi mà vía đã mất tăm mất tích. Cứ vừa phá sức lên một con dốc, rồi lao như tên bắn xuống con dốc khác lại xuất hiện, chúng cứ nối tiếp hiện ra, dốc nối tiếp dốc tưởng chừng như bất tận.


< Hoàng hôn trên đèo Lò Xo.

Đèo Lò Xo hun hút và thăm thẳm, nhìn rồi hình dung nó như một con rắn hổ mang khổng lồ đang oằn lưng qua khắp các triền núi ở Kontum với độ dài hàng chục cây số. Thật không thể đếm hết có bao nhiêu con dốc, bao nhiêu khúc cua mà chỉ ấn tượng quan cảnh tại đây tuyệt đẹp khó diễn tả hết được...

Du lịch, GO! tổng hợp, ảnh internet

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Khu du lịch Măng Đen (Kon Tum)


Với không gian tự nhiên, nguyên thủy của hệ sinh thái, sự hoang sơ và thuần khiết như bông hoa rừng vừa hé nở là yếu tố tạo cho Khu Du lịch Sinh thái Măng Đen có sức hấp dẫn mà ít nơi nào có được, đã làm biết bao người rung động khi lần đầu đặt chân đến Măng Đen.

< Với nhiệt độ bình quân trong năm dưới 20°C, Măng Đen có khí hậu mát mẻ quanh năm.

Tây Nguyên được xác định là một trong 7 vùng du lịch đặc thù của Việt Nam trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, Khu Du lịch Sinh Thái Măng Đen thuộc huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum là một trong 31 khu vực có quy mô và tiềm năng du lịch đặc biệt nổi trội ở Việt Nam được Nhà nước ưu tiên đầu tư để phát triển thành khu du lịch quốc gia.



< Những cánh đồng lúa chín vàng dọc theo các sườn đồi thoai thoải ở Măng Đen.

Khi nói đến vùng văn hóa - du lịch Tây Nguyên là chúng ta nghĩ ngay đến không gian văn hóa cồng chiêng, kho tàng sử thi, đến kiến trúc nhà rông, đến cà phê Buôn Mê Thuật và các ca khúc sôi động, giàu sức sống... Tất cả những hình ảnh, ngôn ngữ và âm thanh đó tạo nên một Tây nguyên bản năng, mạnh mẽ, đầy sức lối cuốn và cám dỗ.



< Măng Đen có sự đa dạng về văn hóa của các dân tộc, trong đó dân tộc Mơnâm, Xêđăng, Kadong, H’rê chiếm hơn 97% dân số.

Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên đến năm 2020, tỉnh Kon Tum có vị trí, vai trò hết sức quan trọng của vùng Tây Nguyên trong phát triển Du lịch của cả nước và hợp tác phát triển du lịch của khu vực tam giác phát triển Campuchia – Lào – Việt Nam, trong đó: Đẩy mạng việc đa dạng hoá các sản phẩm du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng và thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên, lịch sử, văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số; tập trung phát triển du lịch sinh thái rừng núi, thác hồ. Phát huy có hiệu quả tài nguyên khí hậu đặc thù để hình thành và phát triển du lịch nghỉ dưỡng cao cấp ở Măng Đen, là dự án ưu tiên nghiên cứu đầu tư thời kỳ 2012-2020 vùng Tây Nguyên.



< Những ngôi nhà sàn nằm nép mình bình yên bên sườn núi.

Thế mạnh về vị trí địa lý của tỉnh Kon Tum cùng nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú phân bố trên cả tỉnh như: Lòng hồ Ya Ly, lòng hồ Pleikrông, vườn quốc gia Chưmomray, khu Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh ... cùng nhiều di tích lịch sử cách mạng: Ngục Kon Tum, Ngục Đắkglei, tượng đài chiến thắng Đắk Tô - Tân Cảnh..., di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật: Chùa Bác Ái, Nhà thờ Gỗ, Chủng viện..., lễ hội: Cồng chiêng, mừng nhà rông, mừng lúa mới... đặc sắc, đã tạo ra sức hấp dẫn tổng thể cuốn hút du khách đến với Kon Tum, đến với Khu Du lịch Sinh thái Măng Đen.



< Thiên nhiên ban tặng cho Măng Đen nhiều thác nước tuyệt đẹp.

Từ thị xã Kon Tum, đi dọc Quốc lộ 24 (về hướng Quảng Ngãi) khoảng 50km, du khách sẽ đến Khu du lịch sinh thái Măng Đen (Kon Plông - Kon Tum), điểm khởi đầu của tuyến du lịch Con đường xanh Tây Nguyên.

Măng Đen có vẻ đẹp hoang sơ và thuần khiết giống như hình ảnh của cô gái thôn quê mới lớn: Dung dị, mộc mạc và hồn nhiên. Bởi vậy, nghỉ dưỡng sinh thái là thế mạnh chủ đạo của Măng Đen. Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, quanh năm mát mẻ, với bạt ngàn rừng thông, với cảnh quan hữu tình của hồ, thác, với hệ sinh thái nhân văn của các dân tộc thiểu số như: Xê Đăng, Kdoong, Mơnâm,...tạo cho Măng Đen khoác trên mình một chiếc áo đẹp nhiều màu sắc.

Măng Đen có vị trí quan trọng về giao lưu kinh tế, đặc biệt là vị trí trung chuyển nằm trên tuyến quốc lộ 24 nối liền tỉnh Kon Tum với các tỉnh duyên hải miền Trung; nằm trên trục hành lanh kinh tế Đông - Tây qua cửa khẩu quốc tế Bờ Y đi qua quốc lộ 24 tới các khu du lịch ven biển miền Trung.



< Cảnh quan núi rừng thiên nhiên thơ mộng.

Thông qua cửa khẩu này, khách du lịch có thể tới các khu du lịch tại Tây Nguyên (Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng) trong đó có Măng Đen của Kon Tum, miền Trung Việt Nam (Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Quảng Ngãi), Nam Lào, Đông - Bắc Campuchia, Đông Bắc Thái Lan.

Măng Đen có vị trí rất đặc biệt, nằm giữa 2 ngọn đèo lớn là đèo Măng Đen và đèo Viôlắk (Quảng Ngãi), khu vực Măng Đen hầu như còn nguyên sinh, diện tích rừng chiếm trên 80% diện tích tự nhiên, có trên 4.000 ha rừng thông tạo thêm tính đa dạng và có nét tương đồng với Đà Lạt. Măng Đen nằm ở độ cao trên 1.000 m so với mặt nước biển, nhiệt độ trung bình dao động18oC - 20oC. Dân tộc thiểu số chiếm gần 90% tổng dân số.



< Thác Dak Ke tuyệt đẹp.

Xuất phát từ việc coi trọng giá trị nguyên sơ, hoang dã là "của quý" không chỉ riêng của Măng Đen, của Tây Nguyên, của Việt Nam mà là sự "hiếm có" của thế giới trong bối cảnh đô thị hóa và toàn cầu hóa hiện nay. Xuất phát từ nhu cầu du lịch sinh thái đang ngày càng phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới, tỉnh Kon Tum đã và đang hướng đến xây dựng Măng Đen thành một vùng nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tham quan, giải trí... đúng với ý nghĩa đích thực của du lịch sinh thái.



< Một hồ nước trong xanh nằm trên núi.

Quan điểm phát triển đối với khu du lịch sinh thái Măng Đen là mong muốn có một sản phẩm đặc thù, một thương hiệu độc đáo và hình ảnh riêng biệt cho Măng Đen, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của khách du lịch hiện đại. Sản phẩm du lịch sẽ phải thân thiện với thiên nhiên, với các hệ sinh thái tự nhiên, có sự tham gia của cộng đồng dân cư với những nét văn hóa độc đáo về văn hóa bản địa của họ. Măng Đen được xác định là khu du lịch sinh thái quốc gia, thì sản phẩm du lịch phải có chất lượng, có tầm cỡ quốc gia và phải kết nối với các vùng du lịch trọng điểm khác trong tổng thể du lịch của vùng Tây Nguyên, khu vực duyên hải miền Trung và Nam Trung trung bộ.



< Những ngôi biệt thự nằm ẩn mình trong rừng thông xanh.

Tại hội thảo quy hoạch xây dựng vùng du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen và đô thị Kon Plông đến năm 2030, Ông Ngô Trung Hải - Viện trưởng Viện Kiến trúc và Quản lý thô thị Việt Nam đã nhận định rằng: Măng Đen phải tìm được cái gì rất riêng cho mình để tránh khỏi bước sai lầm mà các đô thị du lịch nghỉ dưỡng khác của Việt Nam đang vấp phải.



< Hoàng hôn tím buông xuống núi rừng Măng Đen.

Để tạo ra các sản phẩm đặc sắc, khắc biệt, mang dấu ấn địa phương, cần kết hợp khéo léo giữa các di sản phi vật thể và vật thể, các công trình kiến trúc tiêu biểu, nghệ thuật ẩm thực với cảnh quan và thiên thiên nhiên tươi đẹp của địa phương. Với thực trạng tiềm năng, lợi thế, sự thu hút đầu tư, sản phẩm du lịch đặc trưng đang được phát triển mạnh ở Măng Đen như: Nuôi cá thương phẩm, nhân giống thành công các loài cá nước lạnh (cá tằm, cá hồi), sản phẩm trà sim, rượu sim, rau hoa xứ lạnh... Măng Đen có nhiều điều kiện để tạo dựng thương hiệu nổi bật trên bản đồ du lịch Việt Nam cũng như bản đồ du lịch thế giới.

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

Truyền thuyết 7 hồ ở Măng Đen (Kon Tum)


Bảy hồ và ba thác nước tuyệt đẹp ở khu du lịch sinh thái Măng Đen (H.Kon Plông, Kon Tum) được người Mơ Nâm địa phương lý giải bằng câu chuyện đắm màu huyền thoại. Già làng A Đồ Ren ở làng Kon Bring (xã Đăk Long, H.Kon PLông) kể, người Mơ Nâm gọi Măng Đen là T'măng Deeng, nghĩa là đất bằng (rộng lớn).

Yang Plinh nổi giận

Trong truyền thuyết “Bảy hồ và ba thác”, ngày xưa Măng Đen là vùng bằng phẳng, đẹp lạ lùng với rừng thiêng xanh mênh mông trải dài như dải lụa. Dù đẹp vậy nhưng Măng Đen lại không có người và loài vật sinh sống.



Một hôm, Yang Plinh (tương tự như Ngọc Hoàng thượng đế) từ trên trời nhìn xuống Măng Đen cảm thấy buồn bã, bèn gọi 7 người con trai đến, gồm: Gu Kăng Đam, Gu Kăng Lung, Gu Kăng Rpong, Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu Kăng Săng và em út là Gu Kăng Pô. Yang Plinh phán: Các con hãy xuống Măng Đen lập làng. Mỗi người được phong thần cai quản một vùng đất, gọi là Huynh.

Xuống lập làng, 7 người con của Yang Plinh lấy vợ, nhưng các bà vợ phải biến thành loài vật. Vợ của Gu Kăng Đam, Gu Kăng Rpong biến thành heo thần gọi là Chu Huynh, vợ của Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu Kăng Săng biến thành nai thần gọi là Zoi Huynh, vợ của Gu Kăng Lung biến thành cá thần gọi là Ca Huynh và vợ của Gu Kăng Pô biến thành thằn lằn thần gọi là Pô Huynh. Các bà vợ có trách nhiệm cai quản những con vật cùng loài với mình. “Các ngươi suốt đời không được ăn thịt các loài do vợ mình biến thành. Nếu phạm lỗi thì sẽ bị trừng phạt”, Yang Plinh căn dặn các con. Dulichgo



Nhờ đất đai màu mỡ, thời tiết thuận hòa, các vị thần lại dạy cho con cháu dựng nhà, làm rẫy, săn thú, dệt vải, đan lát, hát ca, đánh cồng chiêng…, 7 làng của 7 anh em ở Măng Đen ngày càng sung túc. Mỗi năm, những người con của Yang Plinh về báo cáo với cha mình về công cuộc chăn dắt loài người ở Măng Đen. Sau này, cuộc sống ở trần gian say mê hấp dẫn, người làng ngày càng đông đúc nên các thần phải thường xuyên đi đây đó chăn dắt giúp đỡ dân và họ không về trời nữa.Dulichgo

Tuy vậy, mỗi năm khi lúa đã về đầy kho, heo gà đầy sân, thịt thú rừng cũng như cá ở suối được sấy khô gác đầy trên chạn bếp, con trâu, con bò, con dê thả trong rừng béo mập là lúc 7 vị thần dạy dân làm lễ ăn trâu cúng Yeeng (gọi là ăn trâu mừng năm mới). Những lần cúng Yeeng, người dân mặc đồ đẹp nhất, uống rượu và ăn những món ngon nhất, ca hát nhảy múa từ đêm này sang đêm khác. Trong những lần cúng Yeeng, nhất thiết phải có cây nêu vẽ hình trang trí thể hiện cuộc sống xung quanh họ, hình núi non, sông nước và trên cùng là hình mặt trời. Thông qua cây nêu (tượng trưng cho đường lên trời) các Huynh báo cáo với Yang Plinh về cuộc sống ở trần gian.



Trong các lễ hội này, các vị thần cũng vui chơi nhảy múa, ăn uống với dân làng. Thế rồi có một lần, do vui chơi, ăn uống cả tuần, những người con Yang Plinh quên mất lời cha dặn, ăn cả thịt cùng loài với vợ mình biến ra, chỉ có người em út là Gu Kăng Pô ở làng Huynh Pô là còn nhớ lời cha không ăn thằn lằn. Từ trên trời nhìn xuống, Yang Plinh nổi giận, dùng lửa trừng trị 6 đứa con trai lớn. Giữa lễ hội đông vui, giông tố nổi lên đùng đùng, 6 cột lửa trên trời đánh xuống 6 làng của 6 người anh, lửa phụt lên mù mịt, đất đá biến thành nước chảy tràn khắp vùng, nhà cửa tài sản, con người cũng như các Huynh đều bị nhấn chìm trong biển lửa. Dulichgo

Người em út làng Huynh Pô, dù không ăn thằn lằn nhưng biết mà không nhắc nhở các anh mình cũng bị trừng trị bằng một cột lửa. Nhưng Yang Plinh cho lựa chọn một là dân làng phải chết hoặc Gu Kăng Pô phải chết. Vì quá thương xót dân làng nên Gu Kăng Pô tự nhận cái chết về mình và xin mang theo một đứa nhỏ để hầu hạ. Các cột lửa từ từ tắt sau khi đã nuốt vào lòng đất toàn bộ con người và tài sản của 6 làng và 6 miệng cột lửa đó biến thành 6 cái hồ lớn. Dân làng Huynh Pô sống sót chuyển đi nơi khác và tại miệng hố lửa làng này cũng biến thành một hồ nhỏ. Trong khi Yang PLinh trừng phạt những đứa con trai, có ba cột lửa bắn lên và biến thành ba thác nước ở Măng Đen bây giờ.  



Vùng đất của núi lửa

Theo già làng A Roi ở làng Kon Bring (xã Đăk Long, H.Kon PLông), truyền thuyết “bảy hồ, ba thác” xuất hiện từ bao giờ không ai rõ. Tuy nhiên, không chỉ có chuyện kể ở trên mà còn có một số dị bản lưu truyền qua lời kể của người Mơ Nâm ở vùng Măng Đen. Theo ý kiến một số người, có thể vùng đất này ngày xưa có núi lửa, vì theo truyền thuyết lửa đã biến vùng này thành 7 cái hồ lớn nhỏ, đồng thời đất ở đây là đất bazan, phù hợp trồng các loại cây công nghiệp, nhất là cà phê, khác với H.Ba Tơ (Quảng Ngãi) và Kon Rẫy (Kon Tum) sát bên chỉ có đất thịt pha cát, hoặc tỷ lệ đất bazan trong đất rất ít. Dulichgo

Theo Sở VH-TT-DL tỉnh Kon Tum, các hồ ở Măng Đen hiện lớn nhất là 3 ha, nhỏ nhất 0,5 ha. Đó là các hồ Toong Đam, Toong Ly Lung, Toong Zơ Ri, Toong Ziu, Toong Xăng, Toong Rơ Poong và Toong Pô. Theo tiếng Mơ Nâm, Toong có nghĩa là “nước”. Tuy nhiên, những truyền thuyết về các hồ này đang dần mai một nên cần phải viết thành sách dạy lại cho học sinh ở địa phương.