menu

chuyên mục

Giới Thiệu

Nhiều người xem

Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

Kí Ức Hà Nội (Ảnh Xưa)


Giới thiệu Ảnh Xưa về Hà Nội trong Triển lãm ảnh của Dương Trung Quốc 


“Métropole” không phải là khách sạn ra đời sớm nhất nhưng chắc chắn là khách sạn có truyền thống lâu bền và tiêu biểu nhất gắn với Hà Nội. Buổi đầu Tây chiếm đóng, một số quán trọ đã xuất hiện tập trung bên Bờ Hồ và dọc Phố Paul Bert (nay là Tràng Tiền). 







Ở Sài Gòn, chỉ một năm sau khi buộc nhà Nguyễn “nhượng đất”, viên Phó đô đốc thực dân Lagrandière đã ban hành quyết định thành lập một Vườn Bách Thảo và Bách Thú vào ngày 10/6/1863. Còn ở Hà Nội, một khu vườn tương tự được khởi công vào năm 1890, tức là chỉ 2 năm sau khi Hà Nội được vua Đồng Khánh trao cho Pháp làm thành phố nhượng địa.

Ban đầu nó chỉ là một vườn thí nghiệm, được trao cho một viên dược sĩ hải quân biệt phái về Sở Nông lâm để nghiên cứu phương thức di thực các loại thảo mộc từ nước ngoài, nhất là từ các thuộc địa châu Phi qua để bổ sung cho các loại cây trồng đô thị và phát triển trồng trọt  Dần dà cùng với các giống cây, ngày một phong phú là một số thú nuôi thích hợp như hươu nai, đặc biệt thu hút người xem là gấu, cọp và voi cùng nhiều loại chim muông nên vườn còn đựoc gọi là Bách Thú.
  Đền hàng hoa

Ban đầu, khu vườn cây trồng và nuôi chim thú này chỉ là một cảnh quan hỗ trợ cho không gian của Phủ Toàn quyền Đông Dương, trên đất của các làng Ngọc Hà, Hữu Tiệp và Khán Xuân.
Không gian này bao lấy môt gò núi đất nhỏ mà dân vẫn quen gọi là Núi Nùng, nhưng tên dân gian của nó là Núi Sưa vì trên đó mọc nhiều loại cây này. Trên lưng núi, lại có đền thờ Huyền Thiên Hắc Đế, tương truyền là người giúp nhà Lý đánh giặc phương Nam, nên được phong làm thành hoàng của mấy làng trong khu vực. Ngay chân núi lại có mấy hồ nước hơn hẳn vườn ở Sài Gòn. Ở đây từng có một ngôi “đền Hàng Hoa” rất đẹp
“Vui nhất là Chợ Đồng Xuân
Thức gì cũng có xa gần bán mua”

Câu ca dao này hẳn ra đời muộn hơn năm 1888 là thời điểm chính quyền Pháp bắt tay vào quản lý Hà Nội như một thành phố “nhượng địa”  và ngày 6/4/1888 đã ký một quyết định thành lập một ngôi chợ mới.

  Chợ Đồng Xuân được lắp đặt bằng khung thép và lợp mái tôn
Hồi xưa, đồng hồ còn là vật dụng hiếm quý nên Hà Nội chỉ có dăm cái đồng hồ công cộng để báo giờ cho dân chúng. Tuy nhiên, chỉ duy nhất một cái đặt chơ vơ giữa khoảng không gian rộng, trên một cái cột gang, tựa như những cột đèn khá phổ biến đương thời.
Hoàng thành Thăng Long qua các triều đại có thể to nhỏ khác nhau, vòng thành có thể rộng hẹp khác nhau, nhưng trên trục hoàng đạo nối từ Cửa Bắc đến Cửa Nam có một địa điểm không khi nào thay đổi, đó chính là Điện Kính Thiên.
Một góc điện Kính thiên-Công trình phòng thủ của quân Pháp
Những nhịp cầu rất đặc trưng in trên nền trời giúp chúng ta dễ dàng định vị được con đường được chụp trên tấm ảnh này. Người Pháp gọi chung con đường chạy dọc bờ sông Hồng này là “Quai de Commerce” (Kè Thương mại). Hãy để ý lúc này chưa có đê dọc Sông Hồng
Phố hàng Đào. Rue de la Soie – tên gọi chính thức bằng tiếng Pháp trong bản đồ hành chính thành phố Hà Nội – đủ để giải thích tên gọi “Hàng Đào”. Đây chính là phố bán các loại vải vóc, tơ lụa mà có lẽ là loại vải màu điều (đào/đỏ).
Ngôi nhà ngoài cùng bên phải ảnh chính là nhà số 4 nơi cư trú của gia đình cụ Cử Lương Văn Can. Ngôi nhà 2 tầng có lan can màu trắng cách 2 ngôi nhà tiếp theo là nhà số 10 nơi mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục.
  Điểm rẽ của 2 tuyến xe điện, một đi thẳng vào Hàng Đào đi tiếp tới Chợ Đồng Xuân; một rẽ trái theo phố Hàng Gai lên Cửa Nam
Mã Mây xưa kia là 2 phố với hai đặc trưng hàng nghề là Hàng Mây ở đoạn gần Hàng Buồm và Hàng Mã Vĩ ở đoạn sát Hàng Bạc
Người Pháp gọi tên phố Mã Mây là Phố quân Cờ Đen để ghi nhận nỗi kinh hoàng của cả Tây lẫn ta với đám quan quân đến từ Phương Bắc hoành hoành và từng trú quân tại đây.
 
Nếu chọn một công trình kiến trúc nào xưa nhất, lại ít thay đổi nhất của Hà Nội còn lại cho đến nay thì đó chính là Nhà Thờ Lớn Hà Nội.

Nhà Thờ Lớn được khởi công vào năm 1884 và khánh thành kịp vào dịp Lễ Thiên Chúa giáng sinh năm 1887. Kể từ đó cho đến nay, kiến trúc dường như không thay đổi. Xem các tấm hình cách đây đã trên dưới một thế kỷ thì thấy rõ điều ấy. Có chăng là sự thay đổi cảnh quan và con người mà thôi.
  Nhờ cuộc xổ số năm 1884 thu đuợc 10 vạn đồng, Nhà thờ Thánh Joseph đã được khởi công ngay trong năm đó và được xây dựng như diện mạo ngày nay và được khánh thành ngày 23/12/1887, một ngày trước dịp Thiên Chúa giáng sinh. 
Phố Cầu Gỗ rất gần Hồ Gươm nhưng bị khuất bởi một dẫy phố nằm kế bên Hồ, có một lối thông sang hồ cũng được coi là một phố (phố Hoàn Kiếm) và đó chính là vị trí của một chiếc cầu làm bằng gỗ bắc qua một con lạch nối Hồ Hoàn Kiếm với một hồ nước không nhỏ có tên là “Thái Cực”, sau khi bị lấp đã trở thành không gian của các phố nằm phía sau dẫy nhà lẻ của phố Hàng Đào (khu vực nay là chợ Hàng Bè).
Cảnh quan Hồ Gươm nhìn từ bờ phía Đông. Dòng lưu bút ghi bên lề tấm bưu ảnh (ngày 10/11/1902) cho biết tấm hình này phải được chụp trước thời gian nó được in thành bưu ảnh và được một khách hàng sử dụng.
  Cầu Doumer, nay gọi là Cầu Long Biên khai thông từ năm 1902. Nhưng thưở đầu, mối quan tâm của nhà đầu tư chưa phải ưu tiên giành cho Hà Nội mà tuyến đường sắt chạy từ Cảng Hải Phòng chỉ vượt con Sông Cái (hay Sông Hồng) để đi thẳng lên Vân Nam xâm nhập vào thị trường vùng Tây Nam của cái quốc gia khổng lồ mà tất cả các đế quốc Âu Tây đang mong ước đựợc dự “bữa cỗ Trung Hoa”. 
  Ga Đầu Cầu tuy nhỏ nhưng đẹp và tiện lợi cho khách nhờ có 2 lối lên
  
Tại Hotel Grand Café đã có những buổi chiếu bóng đầu tiên rồi dần dần mới ra rạp chuyên cinéma.Bộ phim đầu tiên có tên là “Thần Cọp” và được trình chiếu vào 8/1920.Tại phố Nguyễn Xí, có một cái cổng nhỏ đi vào một rạp chiếu phim lấy tên là Palace

Nếu như rạp chiếu bóng lớn nhất và cũng tồn tại tương đối lâu bền nhất là Rạp Palace trên đường Paul Bert (nay là rạp Công nhân trên phố Tràng Tiền), chuyên chiếu các bộ phim do Hãng Gaumont sản xuất, thì sau đó không lâu, một rạp chuyên chiếu phim của Hãng Pathé cũng xuất hiện tại khu đất trống bên cạnh đền Bà Kiệu, trước cửa đền Ngọc Sơn.
  Năm 1918, Trường nữ Sư phạm Hà Nội được thành lập, lúc đầu học ở Hàng Vôi sau chuyển ra Lò Đúc. Năm 1925, trường đổi thành Nữ Trung học Hà Nội (Collège des Jeunes Filles) ở phố Félix Faure (nay là Bộ Tư pháp ở phố Trần Phú). Địa điểm này bị Tây lấy làm Trường Nữ Trung học Pháp, đổi lại cho xây Trường Nữ Trung học Việt Nam ở phố Hàng Bài.Nay là trường THCS Trưng Vương
  Tại ngã sáu, nơi giao nhau của nhiều đường phố: Hàng Than, Quán Thánh, Phan Đình Phùng, Hàng Lược, Hàng Giấy và Hàng Đậu có một công trình xây dựng khá độc đáo, lúc nào cũng đóng cửa kín mít.

Tường của công trình này xây bằng đá hộc, những chấn song sắt và những vòm cửa sổ, cùng cái mái tôn của một toà tháp cao tới 25 mét tính đến chóp, gây cảm giác nặng nề như chốn ngục thất đầy bí ẩn.

Nhưng thực ra đó chỉ là một tháp nước (chateau-d’eau) trong kết cấu của hệ thống cung cấp nước cho đô thị được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX. Có lẽ do trục đường huyết mạch từ cầu Doumer (Long Biên) trực chỉ vào khu thành cổ là nơi đóng binh và đầu não bộ máy cai trị của người Pháp, nên người ta quen gọi  đây là “tháp nước Hàng Đậu”.

Sách “Đại Nam nhất thống chí” của triều Nguyễn đã xác định “Phố Đông Hà bán chiếu trơn”. Đông Hà là tên gọi cái cửa ô mà con đường này từ trong phố đi ra sông Hồng, cái cửa ô này dân thường gọi quen hơn là Ô Quan Chưởng. Đúng là thời xa xưa ở đây có bán chiếu cói nên người Pháp cũng từng định danh là “Rue des Nattes en joncs” ( Phố chiếu cói)
“Hàng Chiếu” có lẽ là cách định danh đúng hơn cả nếu so với 2 cái tên đã từng có, một do Tây đặt là “Jean Dupuis” và một theo cách gọi của dân là “Phố Mới”.
  Cho đến nay cái từ “Ngang” của phố Hàng Ngang vẫn là một câu hỏi về ngữ nghĩa vì nó không phải là một sản vật như các “hàng” khác (như “Hàng Đường, Hàng bạc, Hàng Muối trắng tinh”).
Có nhà nghiên cứu liên tưởng đến một địa danh khác của Hà Nội là phố “Đình Ngang” vốn là con đường cửa ngõ đi vào trong thành qua cửa phía Tây Nam, vì thế có một cái đình được dựng ngang đường cho một đám quan quân đồn trú để tiện bề kiểm soát người qua lại.
Hàng Đường là cái tên có từ trong ca dao xưa và không bị thay đổi, có chăng thêm cái tên phố Cầu Đông, khi có một chiếc cầu đá bắc ngang con sông Tô Lịch. Sông Tô Lịch hồi chưa bị lấp chảy dài từ Hàng Lược qua Hàng Cá, dọc Ngõ Gạch ra sông Hồng đoạn cuối Mã Mây.


Cũng vì có cây cầu đó mà không gian cận ảnh của tấm hình này xưa kia chính là Chợ Cầu Đông. Sông lấp rồi, cầu không còn, để khai thông con đường từ Bờ Hồ ra Hàng Đậu – là điểm giao với con đường khá quan trọng từ Cầu Sông Cái đi vào khu Thành cổ – nên chợ Cầu Đông xưa mới dịch chuyển sang một bên đường để lập ra cái chợ to và lấy tên hàng tổng là Đồng Xuân.
Trường đua ngựa mà nhiều người hay gọi là sân Quần ngựa ở Hà Nội có từ rất sớm. Cuốn “Le Vieux Tokin” (Bắc kỳ xưa) cho biết cuộc đua ngựa đầu tiên ở Hà Nội diễn ra ngày 15/7/1886 trong khuôn khổ những hoạt động mừng Quốc khánh Mẫu quốc năm ấy của đạo quân chiếm đóng và phải 2 năm sau (1888) Tourane (Đà Nẵng) và Nam Định mới có nơi đua ngựa…
Nếu bạn đến rạp xiếc Hà Nội hiện đặt tại khu vực Công viên Thống nhất, bạn có thấy một đôi tượng sư tử bằng đồng rất đẹp. Đó chính là dấu tích còn lại duy nhất (!?) của một công trình kiến trúc rất đẹp mà thoạt nhìn nhiều người ngỡ tưởng nó ở xứ sở xa xôi nào đó bên châu Âu.
Toà nhà do kiến trúc sư Bussy thiết kế . Còn cuộc Đấu xảo năm 1902 được khánh thành vào ngày 16-11-1902.Toà kiến trúc đã biến mất sau trận ném bom của máy bay Đồng Minh (Mỹ) vào thời kỳ phát xít Nhật đang chiếm đóng nước ta trong thời Đê nhị Thế chiến. Hai bức tượng đồng là phần duy nhất không bị bom đạn huỷ hoại
Các cuộc “đấu xảo” được tổ chức tại Hà Nội từ cuối thế kỷ XIX, nhưng cuộc “Đấu Xảo-1902” được coi là đặc săc nhất không chỉ là sự kiện diễn ra vào đầu thế kỷ mới (XX) mà năm đó còn diễn ra một sự kiên trọng đại là khánh thành chiếc cầu thép khổng lồ bắc qua sông Hồng nối đường xe lửa từ Hải Phòng đến Hà Nội và ngược lên phía bắc để tới vùng Vân Nam của Trung Quốc
  Trường Bảo hộ, nay là trường THPT Chu Văn An. Từ đây đã sản sinh ra những tên tuổi như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Xuân Hãn, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Võ Nguyên Giáp, Ngô Gia Tự, Phạm Văn Đồng…
Nhiều người nhìn tấm ảnh này đều dễ dàng nhận ra bức tượng “Nữ thần Tự do” đã quá quen thuộc, sừng sững ở cửa ngõ TP New York của Hoa Kỳ… Bức tượng trong ảnh này đúng là Tượng nữ thần Tự do, nhưng rõ ràng là nó nhỏ hơn, lại nằm trên một đường phố của Hà Nội.
Với những người từng sống ở Hà Nội trước ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945) thì vẫn có cơ hội trông thấy bức tượng này, được dựng tại Vườn hoa Neyret (nay là Cửa Nam) ngay đầu phố Hàng Bông và nhìn sang đường Cấm Chỉ.
Tượng Công lý, thường được dân gian gọi là tượng Bà Đầm Xòe. 
Sưu tầm tại: Namrom64.blogspot.com

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015

Tin lễ 30-4: Hồ Hoàn Kiếm(Hà Nội)

Hồ Hoàn Kiếm còn được gọi là Hồ Gươm (trong bản đồ Hà Nội năm 1886, hồ này được gọi là Hồ Hoàn Gươm - Lac de Hoan Guom), là một hồ nước ngọt tự nhiên của thành phố Hà Nội. Hồ có diện tích khoảng 12 ha. Trước kia, hồ còn có các tên gọi là hồ Lục Thủy (vì nước có màu xanh quanh năm), hồ Thủy Quân (dùng để duyệt thủy binh), hồ Tả Vọng và Hữu Vọng (trong thời Lê mạt). 


Tên gọi Hoàn Kiếm xuất hiện vào đầu thế kỷ 15 gắn với truyền thuyết vua Lê Thái Tổ trả gươm báu cho Rùa thần. Tên hồ được lấy để đặt cho một quận trung tâm của Hà Nội (quận Hoàn Kiếm) và là hồ nước duy nhất của quận này cho đến ngày nay.

Vị trí



Hồ Hoàn Kiếm có vị trí kết nối giữa khu phố cổ gồm các phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Cầu Gỗ, Lương Văn Can, Lò Sũ... với khu phố Tây do người Pháp quy hoạch cách đây hơn một thế kỷ là Bảo Khánh, Nhà Thờ, Tràng Thi, Hàng Bài, Đinh Tiên Hoàng, Tràng Tiền, Hàng Khay, Bà Triệu.

Lịch sử

Cách đây khoảng 6 thế kỷ, dựa theo bản đồ thời Hồng Đức thì phần lớn xung quanh kinh thành khi ấy là nước. Hồ Hoàn Kiếm là một phân lưu sông Hồng chảy qua vị trí của các phố ngày nay như Hàng Đào, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Hàng Chuối. Tiếp đó đổ ra nhánh chính của sông Hồng . Nơi rộng nhất phân lưu này hình thành nên hồ Hoàn Kiếm hiện nay.
Thời Lê Trung hưng (thế kỷ 16), khi chúa Trịnh cho chỉnh trang Hoàng thành Thăng Long để vua Lê ở đã đồng thời xây dựng phủ chúa riêng nằm ngay bên ngoài Hoàng thành và trở thành một cơ quan trung ương thời bấy giờ với những công trình kiến trúc xa hoa như lầu Ngũ Long (dùng để duyệt quân) nằm ở bờ Đông hồ Hoàn Kiếm, đình Tả Vọng trên đảo Ngọc Sơn . Năm 1728 Trịnh Giang cho đào hầm ở vị trí phía Nam hồ để xây dựng cung điện ngầm gọi là Thưởng Trì cung .
Chúa Trịnh cho ngăn hồ lớn thành hồ Tả Vọng và Hữu Vọng. Hồ Hữu Vọng được dùng làm nơi duyệt quân thuỷ chiến của triều đình. Đến đời Tự Đức (1847-1883), hồ Hữu Vọng được gọi là hồ Thủy Quân, còn hồ Tả Vọng chính là hồ Hoàn Kiếm. Từ năm 1884, nhà nước bảo hộ Pháp cho lấp hồ Thuỷ Quân để xây dựng, mở mang Hà Nội .

Truyền thuyết

Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi có chép:

Khi ấy Nhà vua cùng người ở trại Mục sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ), nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:
Sắt nào đây?
Thận nói:
Đêm trước quăng chài bắt được.
Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ "Thuận Thiên", cùng chữ "Lợi".Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài-dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:
Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!
Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh. Tới hôm sau, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra. 
Truyền thuyết này được đưa vào nội dung sách giáo khoa của Việt Nam và được viết tiếp đoạn sau, nói về việc Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu, xông pha chém địch nhiều trận, cuối cùng đuổi được quân Minh, lên làm vua.
Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Tả Vọng. Nhận lệnh Long Quân, rùa nổi lên mặt nước.
Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Đứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm bên người tự nhiên động đậy.
Rùa tiến về thuyền vua và nói
- Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!
Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước.
Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm 

Di tích liên quan

  • Tháp Rùa: nằm ở trung tâm hồ, được xây dựng trong khoảng từ giữa năm 1884 đến tháng 4 năm 1886, trên gò Rùa và chịu ảnh hưởng kiến trúc Pháp [13]. Tháp hình chữ nhật. Tầng một: chiều dài 6,28 mét (của 2 mặt hướng Đông và Tây), mỗi mặt có 3 cửa. Chiều rộng 4,54 mét, mỗi mặt có 2 cửa. Các cửa đều được xây cuốn, đỉnh thuôn nhọn. Tầng hai: chiều dài 4,8 mét, rộng 3,64 mét và có kiến trúc giống như tầng một. Tầng ba: chiều dài 2,97 mét, rộng 1,9 mét. Tầng này chỉ mở một cửa hình tròn ở mặt phía Đông, đường kính 0,68 mét, phía trên cửa có 3 chữ Quy Sơn tháp (tháp Núi Rùa). Tầng đỉnh có nét giống một vọng lâu, vuông vức, mỗi bề 2 mét.
  • Đảo Ngọc Sơn: nằm ở phía Bắc hồ, xưa có tên là Tượng Nhĩ (tai voi). Vua Lý Thái Tổ đặt tên là Ngọc Tượng khi dời đô ra Thăng Long và đến đời Trần thì đảo được đổi tên là Ngọc Sơn. Một nhà từ thiện tên là Tín Trai đã lập ra đền Ngọc Sơn trên nền cung Thuỵ Khánh cũ (bị Lê Chiêu Thống cho người đốt năm 1787 để trả thù các chúa Trịnh). Đền Ngọc Sơn thờ thầnVăn Xương là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo.
  • Cầu Thê Húc: dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, do danh sĩ Nguyễn Văn Siêu cho xây dựng vào năm 1865. Tên của cầu có nghĩa là "nơi đậu ánh sáng Mặt Trời buổi sáng sớm"
  • Tháp Bút: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ năm 1865, bao gồm năm tầng. Trên đỉnh là tượng trưng cho một ngòi bút đối lên trời, phần thân có khắc ba chữ Tả Thanh Thiên (viết lên trời xanh), thân tầng thứ ba của tháp có khắc một bài Bút Tháp Chí.
  • Đài Nghiên: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ năm 1865, là phần không thể thiếu của Tháp bút. Ba chân kê nghiên là hình tượng ba con cóc. Trên thân nghiên khắc một bài Minh, gồm 64 chữ Hán.
  • Tháp Hoà Phong: trên bờ hướng Đông hồ, là di vật còn sót lại của chùa Báo Ân (bị dỡ bỏ năm 1898) . Tháp cao ba tầng, cửa theo bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, có các chữ Hán như: Báo Đức môn, Báo Ân môn, Hoà Phong tháp, Báo Thiên tháp, ứng với mỗi cửa của tháp. Tầng một to và cao hơn hai tầng trên cùng. Bốn mặt của tầng hai hình Bát quái. Tầng ba ghi "Hòa Phong Tháp".
  • Đền Bà Kiệu: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng, là một di tích hoàn chỉnh nhưng do việc mở đường nên đã tách làm hai phần, Tam quan ở sát bờ hồ, còn Đền thờ ở về phía bên này đường. Toạ lạc theo hướng Nam. Tam quan và Đền thờ (Nhà đại bái) đều có kiến trúc ba gian xây gạch, lợp mái ngói ta. Ngôi đền thờ ba vị nữ thần là Liễu Hạnh công chúa, Đệ nhị Ngọc nữ và Đệ tam Ngọc Nữ.
  • Nhà Thuỷ Tạ: trên mặt bờ hồ hướng Tây Bắc, là một loại hình kiến trúc quan trọng và đặc sắc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam, là địa điểm diễn ra các lễ của Hoàng triều hoặc thờ cúng Thần linh hay các vị Hoàng đế. Ngoài ra, Nhà Thuy Tạ còn là chốn phục vụ nhu cầu ăn chơi cho tầng lớp thống trị, hậu cung, ly cung, biệt cung... có kiến trúc tương đối đơn giản, được xây dựng bên bờ mặt nước như hồ, ao, sông, suối.
  • Đền thờ vua Lê: ở bờ Tây hồ, áp với đình Nam Hương. Đền có tượng vua Lê Thái Tổ đứng trên trụ cao, tay cầm thanh kiếm như phóng xuống mặt hồ.

Hệ sinh vật hồ

Rùa
Rùa hồ Gươm có tên khoa học là Rafetus leloii, họ Ba Ba (Trionychidae) trong bộ Rùa (Testudies), lớp Sauropsida (Mặtthằn lằn). Rùa hồ Gươm gồm có bốn cá thể, trong đó một cá thể còn sống trong hồ và ba cá thể đã chết (một được lưu trong đền Ngọc Sơn, một lưu trong kho của Bảo tàng Hà Nội và một đã bị giết thịt năm 1962 - 1963 khi bò lên vườn hoa Chí Linh).
Là loài rùa lớn sinh sống trong Hồ Gươm. Ngày trước rùa Hồ Gươm rất hiếm khi nổi lên mặt nước. Truyền rằng mỗi lần rùa nổi đều liên quan đến những việc quốc gia đại sự.
Là di sản vô giá gắn với những truyền thuyết lịch sử và văn hoá linh thiêng từ hàng ngàn năm nay, hiện rùa hồ Gươm thuộc diện động vật quý hiếm đang được nhà nước bảo vệ.
Năm 2011, rùa hồ Gươm, được biết chỉ còn một cá thể sống sót, thường được gọi là "Cụ Rùa" đã được trục vớt và trị chữa các vết thương.

Cảm hứng nghệ thuật

Tuy không phải là hồ lớn nhất trong thủ đô, song hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người. Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khuphố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Hồ có nhiều cảnh đẹp.
Và hơn thế, hồ gắn với huyền sử, là biểu tượng khát khao hòa bình (trả gươm cầm bút), đức văn tài võ trị của dân tộc (thanh kiếm thiêng nơi đáy hồ và tháp bút viết lên trời xanh). Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ đã lấy hình ảnh Hồ Gươm làm nền tảng cho các tác phẩm của mình.
Hồ cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà nhiếp ảnh, trong đó nổi tiếng nhất là lão nghệ sĩ Võ An Ninh

Thơ văn

Nguyễn Khuyến xưa có bài thơ vịnh Hà Thành và Hồ Gươm biến dạng cách đây 100 năm như sau:
Cảm-đề
Ba chục năm nay trở lại hồ
Bây giờ cảnh-sắc khác ngày xưa
Nhà tranh đâu cả, toàn lầu gác
Súng lạ đì-đòm tịt trúc tơ
Chim-chóc đi về lầm lối cũ
Cốc cò chiều tối ngủ sương mưa
Đáng thương văn-vật trăm năm ấy
Còn lại bên hồ một đá trơ!
Nguyễn Khuyến
Hà Nội
...
Hà Nội có Hồ Gươm
Nước xanh như pha mực
Bên hồ ngọn Tháp Bút
Viết thơ lên trời cao
Trần Đăng Khoa - 1969
Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Đài nghiên, tháp bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
Á Nam Trần Tuấn Khải
Nghiên Bút Non Sông(Nhạc và lời: Đình Dương) Hãy viết lên trời cao hỡi Tháp bút kiêu hùng Kiêu hãnh ơi Việt Nam anh dũng kiên cường Khí phách đó Hồ Gươm xanh thắm đến muôn đời Chiến tích xưa còn ghi thanh kiếm vẫn sáng ngời...

Âm nhạc

Hà Nội niềm tin và hy vọng
(Nhạc và lời: Phan Nhân)
Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời
Càng toả ngát hương thơm hoa thủ đô
Đường lộng gió thênh thang năm cửa ô
Nghe tiếng cười không quên niềm thương đau...
Theo wikipedia

Tour liên quan:

Tour du lịch lễ 30-4: Hà Nội- Tràng An- Bái Đính-Hạ Long-Yên Tử(4 ngày 3 đêm)

Tin lễ 30-4: Chùa Trấn Quốc (Hồ Tây -Hà Nội)

Chùa tọa lạc phía Nam hồ Tây, đường Thanh Niên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) giới thiệu chùa nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý Nam Đế (541-547) tại thôn Yên Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). 

Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa được tiếp tục trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1637 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1824, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc từ đời Vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.,Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. 





Chùa Trấn Quốc là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, nằm cạnh Hồ Tây, ở cuối đường Thanh Niên, quận Ba Đình, Hà Nội. Chùa được xây từ thời Lý Nam Đế (541-547) ở gần sông Hồng, đến năm 1615, được dời vào vị trí ngày nay. Chùa có vườn tháp cổ u tịch, có nhiều tượng Phật giá trị, đặc biệt là tượng Thích Ca nhập Niết Bàn. Chùa là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), thì chùa Trấn Quốc nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628 và 1639,chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời Vua Lê Hy Tông đã đễợc nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.
Ta hoài niệm cùng vườn tháp nhấp nhô cao thấp, nhỏ to lời vang vọng giữa hư vô, nghe rõ tiếng ngọn chua me, cỏ ấu đang phập phồng hơi thở dưới chân tháp đầy hơi ẩm sương hồ, nghe lao xao trong gió tiếng mõ cầu kinh đang luận bàn Sắc Sắc Không Không. Ra phía trước sân chùa, thả tầm nhìn vào mênh mông sóng biếc, ta đứng dưới gốc bồ đề nguyên sinh ra từ Tây Trúc, được Tổng thống ấn Độ mang đến đây cho cây bén rễ, mang theo mầu Thiền. Mỗi chiếc lá đề có hình tim, cuống nhỏ nên mỏng mảnh, chỉ phơ phất gió đã rung rinh rào rạt.
Cũng giống như hầu hết những ngôi chùa khác trên đất nước Việt, chùa Trấn Quốc có nhiều lớp, có nhà bái đường, nhiều tượng Phật từ thấp đến cao, từ to đến nhỏ, vàng son lấp lánh, hương khói quanh năm... Đặc biệt có pho tượng Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ thếp vàng lộng lẫy.
Chùa còn có 14 tấm bia, trong đó có bia của Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính, tiến sĩ Phạm Quý Thích dựng năm 1639 và 1015...
Chùa Trấn Quốc nằm trên bán đảo phía đông của Hồ Tây, nên thuộc đất làng Yên Phụ, nơi có ngôi đình thờ thánh. Vào mùa xuân hằng năm dân làng tổ chức đám rước từ đình sang chùa rồi từ chùa về làng bằng cả một đoàn thuyền nối nhau cờ reo trống thúc tưng bừng.
Người vào chùa Trấn Quốc, ngoài việc thành tâm lễ Phật còn là để có một chút ngao du ngắn, được thăm một danh lam nổi lên thanh bình giữa phố phường ồn ào, tất bật. Tịch mịch ngay giữa lòng thành phố, cái đáng quý còn đáng được bình phương lên nữa.
Chiều Trấn Quốc. Trời bình lặng. Hồ như một lão tăng chân tu, ngồi thiền trong hoàng hôn, lắng nghe câu kệ giữa bốn bề mây nước, dù phế hưng vẫn rộn rã những nẻo nào...
Hà Nội vẫn may mắn còn rất nhiều chùa chiền đền miếu. Nào Kim Liên, Một Cột, Liên Phái, Quán Sứ, Thái Cam... Nào đền Quán Thánh, Bích Câu đạo quán, nào đền Bạch Mã, đền Lý Quốc Sư...
Riêng Trấn Quốc vẫn thuộc loại chùa cổ nhất, như đã đắc đạo trên đường tu luyện mà mặt nước Hồ Tây đầy huyền thoại làm chứng quả. Chùa không nhiều bậc đá rêu phong, hay núi non trùng điệp, nhưng thật yên bình cùng sóng nước ngân nga, vẫn có thể cho hồn ta giọt nước cành dương, rửa đi một phần thế tục, để làm Lành làm Thiện với nhân gian... 

Tin 30-4: Hồ Tây (Hà Nội)

Hồ Tây xưa có rất nhiều tên : Hồ Xác Cáo , Hồ Lãng Bạc, Hồ Kim Ngưu, Hồ Dâm Đàm, từ thế kỷ thứ 18 chính thức được goị tên là Hồ Tây cho đến ngày nay.
 Hồ Tây: huyền thoại và thực tế.
Hồ Tây xưa có rất nhiều tên : Hồ Xác Cáo , Hồ Lãng Bạc, Hồ Kim Ngưu, Hồ Dâm Đàm, từ thế kỷ thứ 18 chính thức được goị tên là Hồ Tây cho đến ngày nay.




Theo các tài liệu cổ thì Hồ Tây là một phần rớt lại của sông Hồng sau khi đã đổi dòng, lúc vua Lý Thái Tổ lập kinh đô Thăng Long, con đê ngăn cách Hồ Tây và sông Hồng Chưa có, thuyền lớn đi từ sông Hồng vào Hồ Tây có thể qua 3 lối: Qua cửa sông Tô Lịch, gần phố Chợ Gạo rồi lên vùng Long Đỗ, cuôí phố Thuỵ Khuê ngày nay, ở đó sông Tô có nhánh rẽ sang hồ ở làng Hồ Khẩu ( cửa hồ ) ngay gần chợ Bưởi, phần sông chính vẫn đi tiếp sang phía Tây Nam thành Đại La . Nếu noí sông Hồng là Đại Long mạch của Thăng Long, thì sông Tô Lịch là Long mạch chính mang nước sông Hồng đi xuyên qua kinh thành Thăng Long từ Đông sang Tây, thu hút thuyền buôn trong nước, ngoài nước ra vào và đã để lại nhiều bài thơ trữ tình rất đẹp của Thăng Long xưa:
Sông Tô nước chảy trong ngần
Con thuyền buồm trắng lúc gần, lúc xa”






Cửa sông thứ hai nôí vơí Hồ Tây là cửa sông Bãi Sậy tức Hồ Trúc Bạch, nối  thông vơí Bến Đông Bộ Đầu, từ phố Hàng Than đi lên phố Yên Ninh ngày nay. Xưa kia sông Hồng chưa có bãi bồi lớn, có một nhánh sông rộng đi vào sát bên hồ, sau khi có con đê Yên Phụ xây đè lên bãi bồi, mơí tách nhánh sông ra trở thành hồ Nghiã Dũng, tức bãi Nghiã Dũng hôm nay.

Cửa thứ ba áp sát vơí Hồ Tây hơn, chính là nhánh sông Hồng còn sót lại và đã chứng kiến trận vỡ đê năm xưa, nay còn dấu tích là Hồ Bụng Cá, nằm giưã đê Âu Cơ và con đê quai chật hẹp nay được goị là đường Xuân Diệu, thuộc phường Qủang An và phường Tứ Liên quận Tây Hồ.

Một ngàn năm trước không rõ vua Lý Thái Tổ đã qua cửa sông nào để vào Hồ Tây, nhưng chắc chắn Nhà vua đã vào gần bên Phủ Tây Hồ, Nhà vua mơí nhìn thấy Rồng cuộn sóng bay vút lên trời cao, sách phong thuỷ goị hiện tượng đó là Long quyển thuỷ và tên Thăng Long mơí được Nhà vua lưạ chọn để đặt cho kinh đô. Cũng tại vị trí này, Nhà vua nhìn sang phía Tây, thấy thấp thoáng đỉnh nuí Ba Vì, nên cụm từ “đắc Long bàn Hổ cứ chi thế”và “tiện giang sơn hướng bôí chi nghi” được xuất hiện trong Thiên Đô Chiếu của người. Bơỉ vậy, noí đến Hồ Tây là noí đến nơi khai sinh ra bản Thiên Đô Chiếu bất hủ.
Tương truyền 200 năm trước vua Lý Thái Tổ, Cao Biền đã rất quan tâm đến huyệt đạo này, ông ta đã cố công trù yểm để tận diệt hiền tài của đất Việt, nhưng ông ta đã không yểm được. Năm mươi tư năm trước đây, vào ngày 11/9/1955 cũng có một âm mưu yểm huyệt tại đây. Hôm đó là một chiều thu nắng đẹp, khi kẻ phá hoại vừa bắt đầu hành động thì Long quyển thuỷ lại nổi lên, cướp đi 4 sinh mạng người, chặn đứng hành động phá hoại đó. Đến nay những người cao tuổỉ sống ở Hà Nội và quanh Hồ Tây vẫn nhắc đến Cơn lốc Hồ Tây thoắt hiện thoắt biến năm đó và không quên nhắc con cháu giữ gìn huyệt đạo linh thiêng này.

Từ hàng ngàn năm qua, dân ta đã lập Đền thơ Đức Uy Linh Lang ở ba nơi quanh Hồ Tây là Đền Thủ Lệ, Đình Yên Phụ và Đình Nhật Tân để bảo vệ vùng hồ mênh mông này. Uy Linh Lang là một vị Thiên Thánh trong Thăng Long Tứ Chấn, Đền thờ Người được bố trí theo thế chân vạc thể hiện sự linh thiêng và trọng yểu của Hồ Tây đôí vơí Thủ đô ta và đất nước ta.

Cảnh sắc quanh hồ Tây vốn rất đẹp và thơ mộng, suốt từ thời Lý -Trần đến hết thời vua Lê- chuá Trịnh, Hồ Tây luôn là “Danh thắng đệ nhất kinh kỳ”, đây không chỉ là nơi giành cho vua chuá và cung tần mỹ nữ đến thưởng ngoạn, nghỉ ngơi, đây còn có rất nhiều phường hội thủ công danh tiếng, tạo nên niềm tự hào của Thăng Long xưa. Do vậy, Hồ Tây được coi là một phần quan trọng như một trung tâm của Kinh đô. Ngay từ thời Lý, Hoàng thành nơi Vua ở và Triều đình làm việc thì ở phiá Nam Hồ Tây, nhưng nơi quân lính đồn trú để bảo vệ kinh đô không ở sát bên Hoàng thành mà lùi lên dải đất liền phía bắc Hồ Tây, được goị là Phường Nhật Chiêu.

“Phường Nhật Chiêu”- một đơn vị hành chính được lập ra để khẳng định rằng đây là một phần của Khinh thành Thăng Long . “Phường Nhật Chiêu” không chỉ là nơi quân lính đồn trú thơì bình, mà trong thơì chiến lại là nơi dân chúng gánh lương thực đi tiếp tế cho binh lính xuất quân ra đi đánh giặc và là nơi đoàn quân ca khúc khải hoàn trở về được nhân dân đón tiếp và tổ chức lễ khao quân. Trong trận chiến đấu chống quân Nguyên Mông lần thứ 2 năm 1284 , vùng đất này đã được Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương chọn làm nơi lập đại bản doanh chỉ huy chiến đấu, tổ chức duyệt binh và đọc hịch tướng sĩ trước 20 vạn quân trên hàng ngàn chiến thuyền và thực sự đã tạo nên một bão táp Thăng Long .  
                                    
 Hồ Tây thời nay vànhững điều cảnh báo.


Suốt trong thời kỳ người Pháp chiếm đóng, Hồ Tây chỉ là một khu thắng cảnh ở ngoại ô, đẹp thì có đẹp, tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương có làm xao xuyến lòng người, nhưng chỉ là nơi dành cho du khách đến ngắm cảnh, thưởng hoa, làm thơ và tưởng nhớ tơí các nữ nhân hào kiệt kể từ Công chúa Từ Hoa lập đến bà Huyện Thanh Quan ở làng Nghi Tàm, hay bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương và cô bán chiếu gon Nguyễn Thị Lộ trong môí tình lãng mạn nhưng bi thương vơí Nguyễn Trãi. Ngoài ra còn nhiều nam danh nhân rất nổi tiếng như Trạng Quỳnh, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến…đều từng trân trọng và nặng nợ vơí Hồ Tây… Nhưng suốt 80 năm đô hộ, các làng nghề ven hồ vơí gần 20 ngôi đình, chuà, đền, miếu từng ghi lại bao sự tích ngàn năm kia vẫn chỉ là các làng ngoại ô, phục vụ cho trò tiêu khiển của người qua kẻ lại, mà không mảy may được quan tâm.  

Sau Cách mạng tháng 8, nhất là sau khi Chính phủ về tiếp quản Thủ đô năm 1954, tuy nhà nước ta đã chính thức chọn Hà Nôị là Thủ đô, nhưng làng hoa xung quanh Hồ Tây vẫn chưa được đưa vào tầm ngắm của các nhà hoạch định chiến lược phát triển Thủ đô

Năm 1960 đường Cổ Ngư được thay bằng đường Thanh niên là nhờ công sức lao động của thanh niên học sinh và sinh viên Hà Nôị. Cùng thời đó là Khu biệt thự Tây Hồ được đặc cách xây dựng giành riêng cho cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước đến làm việc và nghỉ dưỡng. Nhưng do quy hoạch thiếu đồng bộ, thiết kế quá xấu và chất lượng xây dựng rất kém, nên đã không đáng được goị là Khu biệt thự và đã xuống cấp rất nhanh.

Đáng buồn thay là bộ mặt Tây Hồ từ  “thời mở cửa”, có thể noí Hồ Tây rộng 500ha vơí đường chu vi dài 17Km chưa bao giờ có quy hoạch, mà chỉ có phong trào tự xây ồ ạt xô bồ và cơ quan quản lý quy hoạch thành phố đã cho ra các bản vẽ chạy theo dân để hợp pháp hoá sự xô bồ đó và “dân đã đi trước, Nhà nước theo sau” nên kinh phí đền bù lớn hơn kinh phí xây dựng và ở góc nào quanh Tây Hồ cũng là sự dở dang, hỗn độn.

Toàn bộ làng xã nằm trong đường bao 17Km kể trên là các làng hoa và nghề thủ công nổi tiếng, sau hơn 20 năm các làng đã trở thành “ phố làng”, ở đây biệt thự, nhà hàng, khách sạn tự do mọc lên. Hiện đã có hơn 500 ngôi biệt thự cho gia đình người nước ngoài thuê, họ thích thuê nhà ở đây, họ cụm lại sống trong một “làng Tây”. Nhiều gia đình nông dân nay trở thành tầng lớp quý tộc mơí. Nhưng, làng vẫn là làng và văn hoá làng xã ngày càng mâu thuẫn sâu sắc giưã nề nếp truyền thống xưa vơí lối sống “nhàn cư vi bất thiện” của những người có “giầu” nhưng không có “sang”.

Hồ Tây xưa mênh mông và huyền bí bao nhiêu thì các dự án xây dựng cao tầng đã phá tan hết cảnh sắc mênh mông và sức hấp dẫn đầy huyền thoại của Hồ Tây bấy nhiêu. Hình như nơi đây đang có một cuộc tranh chấp ngầm giưã xự cố gắng níu kéo và tôn trọng di sản văn hoá truyền thống của Hồ Tây xưa và những người tự cho là thức thời, cấp tiến, biết tận dụng lợi thế để kiếm ra nhiều tiền.
Năm 1998, dự án Thuỷ Cung Thăng Long xử dụng 21ha đất quý ở bán đảo Tây Hồ, định xây toà thuỷ cung bê tông cao 40m ở sát bên Phủ Tây Hồ, đe dọa đến huyệt đạo quốc gia, đã được hai Phó Thủ tướng ký quyết định phê duyệt và quyết định cấp 21 ha đất, nhưng đến đầu năm 1999 đã bị Thủ tướng Phan Văn Khải ra quyết định thu hồi hai quyết định trên. Cuộc đấu tranh đó dai dẳng hơn một năm. Gần đây được biết lại sắp có một dự án nhà hát Thăng Long thế chỗ. Rất mong dự án đó được đưa ra thảo luận công khai để tránh những động chạm về sau. Cũng như tháng 6 năm 2008, dự án Đường hầm bộ xuyên qua Hồ Tây vơí nhiều tính toán về buôn bán bất động sản, đã được trình lên UBND thành phố Hà Nôị, nhưng đã bị dư luận phản đối dữ dội và đã bị dẹp lại sau một tuần báo chí lên tiếng .

Hiện nay đang có một dự án lớn khiến dư luận đang rất quan tâm : Đó là dự án Trung Tâm đô thị Tây Hồ Tây rộng 210,43ha, đầu tư 100% vốn Hàn Quốc và mang phong cách Hàn Quốc . Dự án đã được UBND Hà Nôị phê duyệt và công bố ngày 4/4/2008, đang được xúc tiến thực hiện xây dựng kỹ thuật hạ tầng để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Về nguyên tắc, để tránh quy hoạch manh mún, xô bồ, các dự án có quy mô lớn được thực hiện đồng bộ triệt để từ cơ sở hạ tầng là một điều rất nên. Nhưng ở Hồ Tây linh thiêng này, các việc không chỉ đơn giản như vậy.

1- Trên trục toạ độ và bản đồ địa hình, thì vị trí của trục chính khu đô thị này trùng với đường trục ngang vĩ tuyến 21 độ 3 phút 30’’ từ Phủ Tây Hồ, vượt 25 km đến Đền Thượng trên đỉnh Ba Vì. Theotrục phong thuỷ tựa nuí nhìn sông , thì Hồ Tây là một đại minh đường hình bán nguyệt, vùng đất 210ha này nhìn ra Hồ Tây, rôì nôí sang huyệt đạo quốc gia bên Đầm Trị, Đền Kim Ngưu và Phủ Tây Hồ có khoảng cách chỉ hơn 1000m. Ở đó đã và sẽ còn Long quyển thuỷ. Điều đó cho thấy đây là một cuộc đất quan trọng cho các nhà chỉ huy chiến lược quốc gia. Vậy ở đây cần xây dựng trụ sở cơ quan đầu não của Nhà Nước, chứ không nên giành cho một trung tâm tài chính, ngân hàng, khách sạn cao cấp và biệt thự của người nước ngoài cho người nước ngoài sử dụng như nôị dung dự án?.  
      
       
   2- Mặt khác, trở lại vơí bản Thiên Đô Chiếu mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trích đọc trong báo cáo mở rộng địa giơí hành chính thủ đô trước Quốc hôị chiều ngày 29/5/2008, thì ngoài :“Tiện thế đất tựa nuí nhìn sông” còn rất cần phải hiểu sâu sắc và gìn giữ “Đắc Long bàn hổ cứ chi thế - tức thế rồng cuộn hổ chầu” chính là thế nuí sông và hồ nước quấn quýt vơí nhau. Có lẽ vưà qua do chưa hiểu hết ý nghiã của đoạn Chiếu này, nên trong các dự án mở khu đô thị sang phiá Tây, không có một dự án nào mở kênh đào , hệ thống hồ nước, nôí liền vơí Hồ Tây, rôì từ đó đến các con sông như sông Tô Lịch, sông Nhuệ, sông Đáy…bơỉ vậy Thế Hổ phục thì vẫn còn đó, nhưng Thế Rồng cuộn thì coi như đã mất .

Hổ là núi, là gò , Long là sông, là nước. Vùng đất trung tâm Tây Hồ Tây thuộc phường Xuân La này là nơi duy nhầt còn có ruộng vườn tiếp cận vơí hồ, là nơi duy nhất có thế phục hôì dòng long mạch đang bị triệt phá. Cửa cống Liên Mạc cạnh Chuà Vẽ là cửa sông Nhuệ nôí vơí sông Hồng và là một địa chỉ quan trọng để đầu tư tu sửa. Từ Xuân La nôí sang sông Nhuệ chỉ chừng 5Km và đến sông Tô Lịch chỉ chừng 1Km.
    
Trong phạm vi bài viết này không tiện noí nhiều. Tác giả kính mong quý độc giả hãy nghĩ đến hai chữ LONG MẠCH để tỉnh ngộ khi chưa quá muộn . Nếu Long mạch bị triệt, rồng vĩnh viễn bị chặt ra nhiều khúc thì điều gì sẽ xẩy ra? Trận ngập lụt năm ngoái, trận ngập lụt năm nay và nhiều trận ngập lụt sau này sẽ còn đe doạ tiền của và tính mạng nhân dân ta.

Nhưng tiền của mơí chỉ là một vế . Long mạch Hồ Tây bị triệt, huyệt đạo quốc gia bị triệt thì đầu óc sẽ u tôí và tai hại sẽ khôn lường .  

Tour liên Quan


Tour du lịch lễ 30-4: Hà Nội- Tràng An- Bái Đính-Hạ Long-Yên Tử(4 ngày 3 đêm)