menu

chuyên mục

Giới Thiệu

Nhiều người xem

Hiển thị các bài đăng có nhãn Dak Lak. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dak Lak. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2015

Điểm du lịch lễ 30-4: Hồ Lak (Buôn Ma Thuột)

Nói đến Đắk Lắk, người ta thường nhắc đến huyền thoại về hồ Lắc - một trong những hồ nước ngọt tự nhiên lớn, nối với sông Krông Ana, rộng khoảng 500ha, nằm ở độ cao hơn 500m so với mặt nước biển. Nơi đây đang là điểm du lịch sinh thái độc đáo thu hút du khách trong và ngoài nước, với một vẻ đẹp tự nhiên thơ mộng của núi và rừng bao quanh.
 Nói đến Đắk Lắk, người ta thường nhắc đến huyền thoại về hồ Lắc - một trong những hồ nước ngọt tự nhiên lớn, nối với sông Krông Ana, rộng khoảng 500ha, nằm ở độ cao hơn 500m so với mặt nước biển. Nơi đây đang là điểm du lịch sinh thái độc đáo thu hút du khách trong và ngoài nước, với một vẻ đẹp tự nhiên thơ mộng của núi và rừng bao quanh.


Vẻ đẹp hồ Lắk 

Khởi nguồn của những mạch nước từ dãy núi Chư Chang Sin, sau khi len lỏi qua các cánh rừng của đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ, tất cả đã cùng nhau hội tụ ở vùng đất trũng bên thị trấn Lạc Thiện của huyện Lắk, hình thành nên hồ Lắk rộng mênh mông trên tuyến đường giao thông nối giữa hai thành phố Buôn Ma Thuột và Đà Lạt. 


Từ xa nhìn lại , hồ Lắk lấp loáng xanh như một dải lụa mềm mại, điểm xuyết cho vẻ đẹp của núi rừng cao nguyên. Vào mùa mưa, khi nước hồ lên cao, tạo ra khoảng không gian hồ nước mênh mông, xanh thẳm, in bóng mây trời. Lại được bao quanh bởi những vạt hoa sen, hoa súng bừng nở khoe sắc trong ánh nắng vàng làm hồ Lắk càng thêm lộng lẫy. 

Được bao bọc bởi những cánh rừng nguyên sinh của đại ngàn Tây Nguyên với diện tích hơn 12 nghìn ha nên khi tham quan hồ Lắk du khách còn được ngắm nhìn hệ động - thực vật đa dạng. Thống kê có 548 loài thực vật thuộc 118 họ, 132 loài chim, 61 loài thú, 43 loài lưỡng cư bò sát, trong đó có một số loài đặc hữu và quý hiếm. Bên cạnh đó, hồ Lắk còn là nơi trú ngụ của vô số loài thuỷ sinh, tôm cua cá và là nguồn lợi kinh tế lớn cho cư dân địa phương sinh sống ở khu vực quanh hồ. 
Và huyền thoại mang tên hồ Lắk 

Theo truyền thuyết của người Mơ Nông, thuở xa xưa, thần lửa đã chiến thắng thần nước sau một cuộc chiến quyết liệt kéo dài nhiều mùa rẫy, khiến buôn làng của người Mơ Nông chìm trong đại hạn. Trong lúc đó, có một chàng trai được sinh ra giữa cuộc tình của cô gái người Mơ Nông với thần lửa. Để chuộc lại lỗi lầm của cha mẹ, chàng trai đã ra đi tìm nguồn nước cứu dân làng. Sau nhiều ngày đêm vượt qua núi non hiểm trở đầy thú dữ, một lần ngồi nghỉ chàng chợt nhìn thấy chú lươn nhỏ nằm kẹt trong khe đá đang chờ chết khô. Để trả ơn, lươn đã dẫn chàng trai đến một hồ nước mênh mông và người Mơ Nông đã đến định cư tại đây. Hồ nước và vùng đất đó chính là hồ Lắk ngày nay. 

Đến với hồ Lắk, du khách có thể cưỡi voi hoặc đi thuyền độc mộc để ngắm cảnh hồ. Khi lên bờ du khách có thể thực hiện những cuộc dã ngoại vào buôn làng Mơ Nông hoặc đi sâu vào trong rừng để khám phá những điều bí ẩn cuộc sống của chim chóc, muông thú.
Tới đây, du khách không chỉ khám phá vẻ đẹp tự nhiên, nghe huyến thoại bí ẩn mà còn được khám phá những nét văn hoá truyền thống của người Mơ Nông – nét văn hóa của dân tộc Tây Nguyên.
Hiện nay, cư dân sống xung quanh hồ chủ yếu là người Mơ Nông và một số buôn làng như buôn Jun và buôn M’Liêng vẫn giữ được những nét văn hoá dân tộc truyền thống. Những nghề thủ công, lễ hội truyền thống, nghề dệt thổ cẩm, nhiều vật dụng sinh hoạt như ghế Kpal, trồng H’gơr, chiêng, ché cổ và những ngôi nhà dài truyền thống của người Mơ Nông sẽ là điểm đến thu hút sự quan tâm của du khách. Bên cạnh đó, du khách có thể thưởng thức các vũ điệu truyền thống sôi động hay nghe người làng kể chuyện và thưởng thức các món ăn đặc sản như chả cá thác lác. 

Hồ Lắk ngay cái tên đã nói lên vẻ đẹp huyền bí. Ngoài cảnh đẹp tự nhiên, không khí trong lành cùng những cuộc phiêu lưu hồ nước trên bành voi và trên thuyển gỗ với những chuyến dã ngoại khám phá nét văn hoá, đặc sắc của dân làng Mơ Nông, đã, đang và sẽ đưa hồ Lắk trở thành điểm đến không thể thiếu trong các tour du lịch Đắk Lắk nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung.

Hồ Lắk - bức tranh đẹp giữa đại ngàn Tây Nguyên

Hồ Lắk như một bức tranh hoàn mỹ mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người với nước hồ xanh màu ngọc, đồi núi chập chùng cùng tiếng chim kêu, tiếng vượn hót...
Cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng 60 km nằm trên địa bàn huyện Lắk, hồ Lắk là một trong những hồ nước ngọt lớn nhất Việt Nam và là điểm đến mà du khách khi đến Đắk Lắk không thể bỏ qua. Mặt hồ rộng lớn có màu xanh ngọc được bao xung quanh là những cánh rừng già bạt ngàn của Tây Nguyên với hệ động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng nên không ngạc nhiên khi nơi đây trở thành điểm du lịch lý tưởng cho những du khách ưa thích khám phá thiên nhiên hoang dã.
ho-lak-4-1259-1407564803.jpgHồ Lắk yên bình trong ánh ban mai. Ảnh: Bimm
Đến đây vào buổi sáng, du khách như đang bước vào một thế giới khác, cả một không gian thanh bình của thiên nhiên mở ra trước mắt giúp bạn trút bỏ hết những ưu tư, phiền muộn trong cuộc sống mưu sinh hàng ngày để tận hưởng sự yên bình, thanh thản của núi rừng mang lại.
Có thể nói, hồ Lắk giống như một bức tranh hoàn mỹ mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người ở đây. Nước hồ xanh thẳm một màu ngọc, bầu trời trong xanh, xung quanh là đồi núi chập chùng với tiếng chim kêu, tiếng vượn hót... tất cả hòa quyện vào nhau một cách hài hòa làm cho không gian ở đây không quá tĩnh mịch nhưng cũng không quá ồn ào.
ho-lak-2-2239-1407564803.jpg
Cưỡi voi đi dạo quanh hồ là một hoạt động thú vị được du khách ưa thích. Ảnh: P-Nguyễn.
Đến đây, du khách có thể cưỡi trên những con voi khổng lồ lội qua hồ Lắk hay dạo chơi hồ trên những chiếc thuyền độc mộc, xem biểu diễn cồng chiêng Tây Nguyên, bơi lội, và đặc biệt khung cảnh mặt trời mọc và lặn ở đây là khoảnh khắc hết sức tuyệt vời. Bên cạnh đó, bạn cũng có dịp trải nghiệm cuộc sống của người dân chài khi thả lưới bắt cá thác lác, một loài cá đặc sản của hồ nước này và thưởng thức những món ăn ngon từ cá này như nướng, làm chả, nấu canh....
Một địa điểm mà du khách cũng không bỏ qua khi đến hồ Lắk là ghé thăm khu Biệt điện Bảo Đại, nơi nghỉ dưỡng ngày xưa của Bảo Đại. Đây là nơi mà vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn thường đến ngắm cảnh, săn bắn, nghỉ ngơi mỗi khi có dịp lên thành phố Ban Mê Thuột.
ho-lak-3-2218-1407564804.jpg
Tham gia vào đêm nhạc cồng chiêng giữa núi rừng là một trải nghiệm khó có thể quên được dành cho du khách. Ảnh: Bimm.
Không chỉ có phong cảnh đẹp, hồ Lắk còn hấp dẫn và thú vị nhờ các bản làng của người dân tộc M’Nông sống xung quanh hồ. Được tìm hiều về văn hóa, cuộc sống hằng ngày của người dân tộc thiểu số ở đây là một trải nghiệm đầy thú vị cho chuyến đi của du khách. Khi đêm về, dưới ánh trăng vằng vặc bên ánh lửa rừng, du khách có thể vít một hơi rượu cần rồi hòa mình vào điệu múa của các sơn nữ trong tiếng cồng, tiếng chiêng rộn ràng giữa đại ngàn núi rừng.

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2015

Tin lễ 30-4: Buôn Ako Dhong (Buôn Ma Thuột- Daklak)

Buôn AKô Đhông hay buôn Cô Thôn, làng Ma Rin là một buôn làng người Ê Đê ở thành phố Buôn Mê Thuột, Đắk Lắk. AKô Đhông theo tiếng địa phương có nghĩa là buôn đầu nguồn có lẽ vì có rất nhiều con suối bắt nguồn từ khu vực này Như Ea giang, Ea Dung, Ea Ding, Ea pủi, Thun M’nung và đặc biệt là trong đó có cả con suối lớn nhất ở Buôn Ma Thuột là suối Ea Nuôl.

Nơi đây có thể xem như là một hình mẫu của một buôn làng người bản địa Tây Nguyên với những mái nhà dài truyền thống và một phong cảnh đẹp như tranh, hiện buôn AKô Đhông đang là một trong những điểm đến không thể thiếu trong tour du lịch đến với Ban Mê.
buon ako dhong2
Buôn AKô Đhông có chừng 300 người sống trong khoảng 30 ngôi nhà dài xếp dọc theo con đường chính của buôn. Nhà dài của người Ê Đê là nơi sinh sống của nhiều thế hệ trong một đại gia đình theo chế độ mẫu hệ, nên ngôi nhà có thể dài từ 15m đến hơn 100m, tùy theo số lượng người. Cứ mỗi lần gia đình có con gái lấy chồng, ngôi nhà sẽ được cơi nới thêm chiều dài.
buon ako dhong8
Nhà được xây dựng bằng vật liệu gỗ, tre, nứa lợp mái tranh. Có kết cấu cột kèo bằng gỗ tốt, các đà ngang, đòn dông luôn được đẽo bằng tay. Nhà được thưng vách và lót sàn bằng các phên nứa đập nát, mái lợp cỏ tranh rất dày. Đỉnh mái cách sàn nhà từ 4m đến 5m.
Bố cục nhà dài chia làm 2 phần: nửa phía trước gọi là “Gah” chứa các vật dụng như: ghế chủ, ghế khách, bếp chủ, ghế dài Kpan, cồng chiêng và là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung trong gia đình. Nửa phía sau là “Ôk” là chỗ ở của các đôi vợ chồng, đặt bếp nấu ăn chung.
buon ako dhong13
Đến với AKô Đhông, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những ngôi nhà dài nổi tiếng, mà còn được khám phá và trải nghiệm một không gian văn hóa rất đặc trưng của đồng bào nơi đây.
Vị trí
Buôn Akô Đhông nằm ở cuối đường Trần Nhật Duật, phường Tân Lợi, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 2km về hướng Bắc.
Di chuyển
Từ Buôn Ma Thuột, đến buôn AKô Đhông, bạn có thể đi bằng taxi/xe ôm/thuê xe máy
Phương tiện cá nhân
Từ trung tâm thành phố theo đường Phan Chu Trinh, đến ngã tư Trần Nhật Duật, rẽ trái theo đường Trần Nhật Duật (đường đất, đường vào khách sạn Yang Sing) đi 500m là đến nơi.
buon ako dhong1
Phương tiện công cộng
Taxi
  • Taxi Mai Linh
Địa chỉ: Số 36 Ngô Gia Tự, Tp. Buôn Ma Thuột – Điện thoai: 05003.819.819
  • Taxi Tây Nguyên
Địa chỉ: Số 318 Phan Bội Châu – Tp. Buôn Ma Thuột – Điện thoai: 05003. 838.838
  • Taxi Đăk Lăk
Địa chỉ: Số 113 Lê Thánh Tông – Tp. Buôn Ma Thuột – Điện thoai: 05003. 818.181
Tour liên quan

Tour du lịch lễ 30-4: Buôn Ma Thuột- Gia Nghĩa (3 ngày 3 đêm)

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2015

Tin lễ 30-4: Tịnh Xá Ngọc Ban (Buôn Ma Thuột- Daklak)

Tịnh xá tọa lạc ở Km 6 Quốc lộ 26, phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Dăk Lăk. ĐT: 050.865246, 050.865266. Tịnh xá thuộc hệ phái Khất sĩ, Phân đoàn 1 Ni giới.
Tịnh xá được Ni sư Thích Nữ Hoa Liên xây dựng vào năm 1969 trên diện tích 1 ha 11 sào 58 m2 do ông Antoine Delpane, Tổng Giám đốc Công ty C.H.P.I. tại Buôn Ma Thuột hiến cúng. Lễ khánh thành được tổ chức trọng thể vào ngày 28 – 3 – 1970.

Đến năm 1999, ngôi tịnh xá bị hư hỏng nặng, Ni sư trụ trì Thích Nữ Hoa Liên đã tổ chức đại trùng tu vào ngày 25 tháng 2 năm Kỷ Mão, xây dựng ngôi chánh điện bát giác (theo truyền thống của Hệ phái Phật giáo Khất sĩ) gần 300m2 và các công trình khác như: trai đường, nhà khách, ni xá, động quả phúc thờ Bồ tát Di Lặc, ngọn ngũ hành thờ Bồ tát Quan Thế Âm… tạo nên một cảnh quan trang nghiêm, đẹp đẽ.

Vườn tịnh xá
Ngọc Ban là ngôi tịnh xá nổi tiếng của Ni giới Khất sĩ ở Cao nguyên. Chung quanh ngôi chánh điện là một vườn hoa đẹp, khoe sắc quanh năm.
Gốc cây thủy tùng vô cùng quý giá được một người kiểm lâm mua rồi hiến cho chùa. Nhà chùa đã phải tìm người đẽo tượng từ khắp nơi, hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến đẽo tượng Phật nhưng khi đụng dao búa vào đều gãy hết, chỉ có 1 nhóm thợ ở Hội An (Quảng Nam) là đẽo được. Sự kỳ lạ còn ở chỗ với các nhóm thợ khác thì cây rất cứng, nhưng với nhóm thợ này gỗ lại rất dễ đẽo, đẽo xong thì ngay lập tức cứng lại.
Nghe câu chuyện kỳ lạ về gốc cây thủy tùng đã được đúc tạc thành bức tượng Phật đặt tại gian chính điện của tịnh xá Ngọc Ban (TP Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk), chúng tôi không khỏi ngạc nhiên và cảm thấy lý thú về những sự kỳ diệu xung quanh bức tượng này. Trò chuyện cùng chúng tôi, Ni sư Nhàn Liên là trụ trì tại tịnh xá Ngọc Ban này kể lại về nguồn gốc của gốc cây thủy tùng vô giá này. Sự vô giá của nó là bởi hiện tại cả Tây nguyên chỉ còn vài cây thủy tùng còn sống, mà mỗi cây có giá tới cả chục tỷ đồng.
cây thủy tùng , 2000 năm tuổi , người đẽo tượng
Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Chừng 6-7 năm về trước, ở tận huyện Krông Năng, phía Đông Bắc tỉnh Đăk Lăk có một nhóm 4-5 người đồng bào Ê Đê hì hục đào một gốc cây to có đường kính tới 2m nằm lẩn sâu trong những lớp bùn đất. Gốc cây đó chỉ còn một phần thân nhưng rất lớn tới 3 người ôm mới hết. Lúc ấy tình cờ có người kiểm lâm đi ngang qua thấy, biết là cây gỗ quý hiếm nên đã ngỏ ý mua lại, và nhóm người dân tộc đồng ý bán với giá 10 triệu đồng. Ngay sau đó, người kiểm lâm thuê xe xúc, máy bơm rồi bơm nước xuống rồi hút bùn lên, để không ảnh hưởng tới rễ cây.
Sau đó thuê xe cẩu đến cẩu lên. Phải mất đến 2 ngày đào bới với sự hỗ trợ của máy móc hiện đại mới đưa được phần còn lại của cây thủy tùng lên mặt đất!”. Một sự lạ là khi đào được gần 4m sâu dưới lòng đất, khi cho xe cẩu tới mọi người đều nghĩ với một gốc cây như thế thì dễ dàng lấy lên được, vì xung quanh gốc chỉ là bùn nhão, rất dễ để cẩu cây thủy tùng lên mà không sợ ảnh hưởng tới rễ cây.
Thế nhưng chẳng hiểu sao năm lần bảy lượt cố gắng hết sức mà người lái xe cẩu không làm nhúc nhích chút nào gốc và phần thân còn lại của cây được, mà còn bị gãy trục cẩu nữa. Mọi người lại tiếp tục xúc, hút bùn lên, đào sâu tới hơn 8m, phải huy động tới hai chiếc xe cẩu khác mới đưa được cây thủy tùng rời lên được mặt đất.
Vợ người kiểm lâm này vốn là phật tử rất tín tâm, nhiều năm đi chùa lễ Phật biết chuyện nên nghĩ rằng gốc cây đặc biệt này phải có gì đó nên khuyên chồng hiến cúng lên nhà chùa, chứ bán đi thì uổng, mà nhà mình chưa chắc đủ phúc duyên giữ lại. Người kiểm lâm thấy vợ phân tích đúng quá nghe lời đã liên lạc với sư bà là cố Ni trưởng Thích Nữ Hoa Liên, Viện chủ Tịnh xá Ngọc Ban trước đây, mong được hiến cúng về Tịnh xá.
“Khi người kiểm lâm cho người chở phần còn lại của cây Thủy Tùng đến Tịnh xá, gốc cây có đường kính hơn 2m, và sư bà cũng như các ni sư lúc ấy nhìn thì thấy tạc tượng Quán Thế Âm Bồ Tát là hợp lí, mà phải là tượng đứng. Ông ấy cũng nói rằng vợ chồng ông ấy hiến cúng Tịnh xá gỗ quý, nhưng phải dùng để tạc tượng Quán Thế Âm Bồ Tát chứ không được dùng làm việc gì khác, nếu sư bà đồng ý thì vợ chồng ông ấy mới để lại. Nếu không, ông ấy dành hiến cúng tới chùa lớn. Thế rồi sư bà tiếp nhận và nói sẽ sớm tiến hành tạc thành bức tượng lớn để đặt ở chính điện cho phật tử đạo hữu tới chiêm bái!”, Ni sư Nhàn Liên kể lại.
Kỳ lạ bức tượng chọn người tạc đẽo
Nhận được gốc cây lớn vô cùng quý giá như thế, đích thân sư bà Ni trưởng Thích Nữ Hoa Liên lặn lội tới Gia Lai, rồi ra Hà Nội, tìm khắp các nơi thợ tạc tượng danh tiếng nhất rồi mời về. Lạ kỳ một điều là hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến nhưng đều lắc đầu trở về vì không làm được. Hỏi ni sư Nhàn Liên vì sao, ni sư trả lời:
“Hồi ấy sư bà mời thợ thuyền về đông lắm, dựng sạp dựng lều cho mọi người tạc tượng tránh mưa tránh nắng bên hông Tịnh xá này. Gốc cây thủy tùng nằm ở đó được dựng lên để các nhóm thợ tạc đẽo. Nhưng việc dựng được gốc cây này lên cũng gian trân lắm. Hai chiếc xe cẩu cỡ lớn được điều tới để dựng gốc cây lên nhưng mãi mà vẫn không được.
cây thủy tùng , 2000 năm tuổi , người đẽo tượng
Cứ luồn dây cáp bằng thép vào để nâng lên thì cái thì đứt, cái thì tuột, rồi đang nâng lên nửa chừng thì bị chết máy. Nhiều người lấy làm lạ lắm nhưng không thể giải thích được vì sao. Sư bà phải đích thân lập đàn chay cúng nguyện mất một buổi, sau đó mọi sự mới thuận buồm xuôi gió. Lúc ấy chỉ cần một chiếc cẩu nâng lên rất nhẹ nhàng!”.
Thế nhưng việc tạc đẽo tượng lại tiếp tục xảy ra những sự cố. Khi các thợ bắt tay vào công việc thì chẳng hiểu sao búa đục cái thì gãy, cái thì mẻ hết. Gốc cây thủy tùng lúc ấy bỗng dưng cứng lại như đá, không thể nào đục đẽo được.
Hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến làm việc đều bị như thế cả. Chỉ cần đưa đục chạm vào gõ mấy cái thì y như rằng chiếc đục sẽ bị mẻ, dùi thì gãy, có người thì gõ cả vào tay. Biết bức tượng phật mà sư bà định tạc đẽo kén duyên người tạc, nên sư bà lại lặn lội đi khắp nơi tìm các nhóm thợ về thực hiện công việc. Sau đó, có người mách nước có một nhóm thợ ở Quảng Nam có tay nghề rất cao, thế là sư bà lặn lội tìm tới một xưởng gỗ ở Hội An tìm được một nhóm thợ nhận lời về Tịnh xá làm việc. Nhóm thợ này là 5-6 nghệ nhân, đều là những chàng trai trẻ độ tuổi 20-22 tuổi, chưa ai lập gia đình.
Về Tịnh xá, họ sớm bắt tay vào tạc tượng. Họ còn trẻ, nên vừa làm việc hăng say, vừa bật nhạc, hát hò vui nhộn. Các ni sư cũng hiểu, cùng trợ duyên cho họ, thêm động lực chuyên tâm công việc. Gỗ cây thủy tùng lúc ấy chẳng hiểu vì sao lại mềm như nến sáp, chỉ cần dùng dao nhỏ cũng gọt được nên chừng 2 tháng sau, bức tượng hoàn thành theo bản thiết kế của những nghệ nhân.
Nhưng, lúc ấy khuôn mặt tôn tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát trông na ná những hình tượng bên Đài Loan, sư bà không chịu nên đã tìm hình ảnh tôn tượng Ngài trông thật Việt Nam và yêu cầu sửa lại, rồi công việc cũng thành tựu như ý.
Công việc vừa hoàn tất thì bức tượng nhanh chóng “đóng băng”, rắn hơn đá hoa cương không có gì đục lại được. Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Quả thật việc đục tạc tôn tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là một công việc đầy khó khăn, trải qua nhiều công đoạn và hầu như lúc nào cũng có những sự việc lạ kỳ. Có lẽ vì chữ duyên với bức tượng như thế này nên không phải ai cũng hiệp tâm làm được. Từ một gốc cây thủy tùng như thế, giờ thành một bức tượng vô cùng đẹp đẽ và quý giá như thế này quả là một kỳ công!”
Ni sư Nhàn Liên cho biết, khi nhà chùa nhận gốc cây này về, có người bên kiểm lâm đã tới tìm hiểu và đánh giá về tuổi của gốc cây này, mọi người đều trầm trồ và ngạc nhiên khi nhóm kiểm lâm giám định gốc cây thủy tùng này cũng đến hơn 2000 năm tuổi. Mà theo kinh điển Phật giáo, cây gỗ có tuổi như vậy thì đã được “thọ thần”. Chính vì thế việc tạc đẽo tượng cũng lắm sự lạ kỳ không thể lý giải được.
Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Từ khi tôn tượng Quán Thế Âm Bồ Tát hoàn thành được đặt tại chính điện của Tịnh xá Ngọc Ban này, đại chúng thập phương đến chiêm bái ngày càng thêm đông, ngưỡng vọng thành tâm cầu nguyện, và có nhiều sự linh ứng, ai cầu gì đều được Ngài phù hộ, ứng nghiệm ngay.
Sức mạnh từ bi độ nguyện nơi Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cảm ứng tới rất nhiều người, mà chỉ tự thân mỗi người với tất cả tâm lòng thành kính cảm nhận được những linh ứng và sự kỳ diệu!”. Hiện tại, bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng cây gỗ thủy tùng này được đặt tại Tịnh xá Ngọc Ban, tại gian chính điện từ lúc hoàn thành đến nay. Ni sư Nhàn Liên cho biết, nhiều lần có một số người đến thương lượng mua lại bức tượng này với giá vài tỷ đồng, nhưng đây là quà tặng của chùa nên không được phép bán.
Nói đến chuyện liệu có bị trộm mất hay không, ni sư Nhàn liên cười cho biết có mấy lần vì muốn dịch chuyển tượng sang một chút để lau chùi, sửa sang lại mái nhà đều không được dù đã huy động cả chục người đàn ông lực lưỡng đến. Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Rất có thể những hiện tượng lạ từ gốc cây thủy tùng nghìn năm tuổi này có được ấy là do đã được thần hóa, qua mấy nghìn năm trải nắng mưa và qua biết bao đời người đã chứng kiến được những điều kỳ lạ nên “thọ thần”. Các nhà khoa học có đến tìm hiểu về gốc cây và cả bức tượng này nhưng đều chưa đưa ra được kết luận vì sao gốc cây có lúc cứng như đá, có lúc lại mềm như sáp.
Chuyện một gốc cây có tuổi đời 2000 năm với vô vàn những điều kỳ bí xung quanh việc tạc thành bức tượng Phật vẫn được người dân nơi đây truyền tai nhau, và với sự linh thiêng kì diệu đó, mỗi người khi đến chiêm bái bức tượng này đều tự dặn lòng mình phải sống từ bi hơn, làm nhiều việc thiện hơn để cuộc sống được thanh thản.
Tour liên quan

Tour du lịch lễ 30-4: Buôn Ma Thuột- Gia Nghĩa (3 ngày 3 đêm)

Tin lễ 30-4: Buôn Đôn xưa và nay (Daklak)

Bản Đôn là một địa danh nổi tiếng của Việt Nam, cũng được nhiều người trên thế giới biết đến như là một nơi có truyền thống săn bắt và thuần dưỡng voi rừng. Bản Đôn trước đây đã từng là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk, sau này để tiện cho việc phát triển kinh tế xã hội và để chiếm giữ một vị trí an ninh quốc phòng chiến lược, người Pháp đã cho dời cơ quan hành chính về Buôn Ma Thuột.
Hiện tại, Bản Đôn chỉ còn là một địa điểm du lịch nằm trên địa bàn xã Krôngna, huyện Buôn Đôn của Đắk Lắk; cách Buôn Ma Thuột 40 km theo hướng tỉnh lộ 1 về phía Tây Bắc.

Tên gọi 


Bản Đôn là cách gọi của người Lào còn người Êđê và M'nông thì gọi là Buôn Đôn
Bản Đôn theo tiếng Lào (sắc dân chiếm đa số ở đây khi còn sơ khai) có nghĩa là "Làng Đảo" nghĩa là một ngôi làng được xây dựng trên một ốc đảo của sông Sêrepôk. Đây từng là một trong những điểm giao thương quan trọng của 3 nướcĐông Dương ngày xưa trên tuyến đường sông. Người Lào khi ấy, trong lúc ngược dòng sông buôn bán, bắt gặp mảnh đất này đã bị quyến rũ và ở lại cùng người Ê Đê bản địa xây dựng lên ở đây một ngôi làng trù phú đầy bản sắc. Cư dân Bản Đôn ngày nay vẫn còn thông thạo tiếng Lào và tiếng Thái Lan, Cư dân có sự lai tạp giữa người Êđê bản địa và người Nam Lào.
Hiện tại, Bản Đôn chính là cách gọi chung để chỉ hệ thống cụm du lịch của huyện Buôn Đôn gồm các khu du lịch thác Bảy Nhánh, vườn quốc gia Yok Đôn, khu du lịch Cầu treo, hồ Đăk Min, vườn cảnh Trohbư...

Du lịch

Ở Bản Đôn có rất nhiều thắng cảnh đẹp nằm tập trung như trong các bãi sông, thác Bảy nhánh, du lịch Cầu treo, hồ Đức Minh, nhà sàn cổ, mộ vua voi gần đó là Tháp chàm Yang Prong - Ea Súp. Có vườn quốc gia Yok Đôn nổi tiếng là vườn quốc gia rộng nhất Việt Nam với hệ sinh thái rừng khộp đầy tiềm năng khai thác du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm và đặc biệt là bản sắc dân tộc của các buôn làng với các bến nước còn giữ được các nét nguyên sơ và huyền thoại về Vua Voi.
Sự năng động trong khai thác du lịch hiện nay đã biến Bản Đôn trở thành thương hiệu nổi tiếng nhất của Du lịch Đắk Lắk, một nơi không thể không đến khi đến Đắk Lắk.
Dựa trên những giá trị văn hóa như truyền thống săn bắt và thuần dưỡng voi rừng; các di tích, thắng cảnh, lợi thế rừng quốc gia và các món ăn đặc sản rất đặc trưng như thịt rừng nướng, gà nướng Bản Đôn, cơm lam, các món ăn từ các loài cá sông đặc sản như cá lăng, cá mõm trâu với rượu cần, rượu Ama Công. Ngành du lịch ở Bản Đôn hiện tại rất phát triển với các sản phẩm ăn khách như tham quan vườn quốc gia Yok Đôn, mộ Vua Voi, nhà sàn cổ, cầu treo, hội đua voi hoặc cưỡi voi lội quasông Serepôk, nghe đánh cồng chiêng...

Vườn quốc gia Yok Đôn



Vườn quốc gia Yok Đôn là vườn quốc gia lớn nhất nước với diện tích trên 115.500 ha nơi bảo tồn voi châu Á và hệ sinh thái rừng khộp...

Vườn cảnh Trohbư

Vườn cảnh Trohbư là một khu vườn cảnh đẹp ở Đắk Lắk nằm tại Buôn Niêng, xã Ea Nuôl, huyện Buôn Đôn; cách Buôn Ma Thuột hơn 12 km theo đường tỉnh lộ 1.
"Trohbư", theo tiếng Ê Đê, có nghĩa là "lũng cá lóc suối" (là loại cá lóc nhỏ chỉ bằng chuôi dao, đen chùi chũi, sống trong các suối đá).
Huyền thoại ở địa phương kể rằng ngày xưa, tại vùng đất nọ có một lần Giàng làm khô hạn, mấy năm liền không cho một giọt mưa, đất đai nứt nẻ không còn trồng tỉa được, ngay cả nước ăn cũng dần cạn kiệt, người dân trong làng phải đi rất xa mới tìm được nước dưới những lòng suối sâu. Bao nhiêu lúa, ngô, khoai, sắn trong làng đều đã dùng hết, người trong làng phải chia nhau vào rừng tìm rau, đào củ. Rồi chẳng mấy chốc rau củ trong rừng cũng hết; chim, thú cũng bỏ đi cả không còn gì để săn bắn. Già làng đã nhiều lần cúng tế bao nhiêu là trâu, bò, lợn, gà mà Giàng vẫn không tỏ lòng thương xót. Không thể đợi lâu hơn được nữa, tù trưởng quyết định phải bỏ làng đi tìm đất mới và cả làng lũ lượt kéo nhau đi. Nhiều ngày trôi qua, đã rất xa nơi ở cũ nhưng rừng núi quanh họ vẫn chỉ một màu nắng cháy, cây cối xác xơ, mọi người đều thấy mệt mỏi và chán nản. Chợt một sáng nọ, họ thấy trước mặt có một vùng cây xanh tốt, mọi người cùng nhanh chân bước. Đến nơi, họ thấy đó là một khu rừng đất đai màu mỡ, cây cối tốt tươi. Lúc ấy, trời đã quá trưa; họ dừng chân ở một nguồn suối nhỏ bên một thung lũng. Trong lúc tìm cái lót dạ, họ bỗng phát hiện trong thung lũng kia có rất nhiều cá lóc suối sinh sống; mọi người lấy làm vui mừng, cùng nhau be bờ, tát cá. Khi nước cạn, họ bỗng lấy làm lạ vì cá ở đâu cứ như từ dưới đất chui lên, bắt mãi mà chẳng hết. Trưa đó cả làng lại được ăn uống một bữa no nê; hôm sau cũng vậy, cá vẫn cứ như tự sinh ra trong thung lũng. Đã được no, họ không còn muốn đi xa thêm nữa; lũ làng, ai ai cũng đã thấy ưng bụng với nơi ở mới này. Rồi họ phát hiện quanh đó có rất nhiều những nguồn nước mạch chảy tự nhiên, thật trong lành, mát ngọt; lại còn có cả một dòng suối lớn quanh năm đầy nước thật thuận tiện cho việc lập buôn làng mới. Cho rằng Giàng đã giúp mình, cả làng quyết định dừng chân cúng tạ và bắt tay vào việc lập buôn làng mới. Họ đặt tên cho buôn mới là Buôn Niêng và gọi dòng suối chảy qua làng là suối Ea Nuôl, còn thung lũng đầy cá lóc suối đã nuôi sống lũ làng khi mới đến kia là Trohbư.
Hiện tại Trohbư là một khu vườn cảnh với những con đường đi dạo quanh co uốn lượn theo các triền dốc, bờ hồ. Ở đây có cả một bộ sưu tập phong phú và đa dạng về cây, cỏ, hoa và lan rừng; có những ngôi nhà nhỏ đơn sơ mang đậm màu cổ tích nằm ẩn giữa tàn cây; có những tiểu cảnh đẹp làm điểm nhấn.
Ở Trohbư, ngoài ảnh hưởng của nghệ thuật vườn Nhật, vườn Trung Hoa những yếu tố mà các khu vườn mới thường bị chi phối, yếu tố bản sắc dân tộc cũng rất được coi trọng để thể hiện dáng vẻ của một vườn cảnh Việt Nam. Đặc biệt, Trohbư là một khu vườn cảnh mang đậm phong cách Tây Nguyên và rất "rừng" do phát triển từ khu rừng tái sinh trên mảnh đất vốn từng bị biến thành đồi trọc trong một thời gian dài bởi nạn phá rừng làm nương rẫy. Trohbư đẹp nhất vẫn là khoảng thời gian tháng 5-6 lúc Đắk Lắk mới chớm bước vào mùa mưa. Lúc ấy trong vườn Trohbư, tất cả cây rừng và phong lan đều khoác lên mình màu áo mới và cùng nhau khoe sắc.

Cầu treo buôn Đôn

Cầu treo buôn Đôn là một cây cầu treo thô sơ bằng vật liệu tre nứa để phục vụ nhu cầu du lịch và cũng là tên một địa danh du lịch nổi tiếng của Bản Đôn.
Đây là một cây cầu du lịch được làm bằng vật liệu tre, nứa, song, mây có gia cố thêm cáp sắt. Cầu được bắt trên một câygừa cổ thụ khổng lồ hàng trăm năm tuổi, mọc ven bờ sông Serepôk đoạn chảy qua Bản Đôn và trùm qua một đảo nhỏ giữa dòng Serepôk. Tán cây bao trùm một diện tích tới trên một ha đất với nhiều gốc do các đoạn rễ phụ tạo thành nên trông rất lạ mắt. Cây cầu dài chừng 1 km, với nhiều phân đoạn gắn kết hài hòa với một hệ thống sàn nghỉ, nhà hàng gia công bằng gỗ cũng hoàn toàn nằm trên cây.
Khi đến đây, khách tham quan có thể đi trên cầu để hưởng cái cảm giác lắc lư theo nhịp chân hoặc nghỉ trên các sàn gỗ lơ lửng trên cây giữa dòng sông; thưởng thức món cơm lam, gà nướng Bản Đôn...

Hồ Đức Minh

Hồ Đăk Mil, theo cách gọi bằng tiếng Ê Đê, hay hồ Đức Minh, theo cách gọi bằng tiếng Việt, là một hồ nhân tạo được tạo nên từ một công trình thủy lợi chặn dòng suối Đắk Man, tỉnh Đăk Lăk. Hồ Đăk Mil nằm cách Bản Đôn cũ chừng 5 km về hướng Ea Súp thuộc địa bàn xã Krông na, huyện Buôn Đôn. Đây là một thắng cảnh đẹp của Buôn Đôn và cả của Đắk Lắk. Hồ nằm giữa trùng điệp những cánh rừng nguyên sinh. Tại đây đã được đầu tư khai thác du lịch rất tốt với đa dạng các loại hình như du lịch dã ngoại, nghỉ dưỡng, đặc biệt là các tour cưỡi voi đi chơi trong rừng khộp...

Mộ Vua Voi

Đây là khu lăng mộ của gia đình vua voi Khun Yu Nốp, một nhân vật lịch sử đã trở thành một huyền thoại của vùng Bản Đôn nổi tiếng về truyền thống săn bắt và thuần dưỡng voi rừng.
Vua Voi, hay Khun Yu Nốb, là danh hiệu vua Xiêm (Thái Lan) ban cho N' Thu K' Nul, người dân gốc được coi như người khai sinh ra Bản Đôn với nghề săn bắt thuần dưỡng voi. Trong đời ông đã bắt được và thuần dưỡng hơn 170 con voi rừng, trong đó có một con bạch tượng tặng vua Xiêm, danh hiệu Khun Yu Nốb tức vua voi chính là do vua Xiêm ban tặng. Ở Bản Đôn hiện còn hai di tích về ông còn rất nguyên vẹn là nhà sàn cổ và mộ vua voi.
Gồm 2 lăng mộ xây gạch, lăng mộ của vua voi N'Thu K'Nul do R'leo K'Nul, người kế tục sự nghiệp, cho xây dựng. Mộ có kiến trúc M'nông và Lào với mô típ hình khối đơn giản trên có trang trí hình búp sen ở bốn góc và đỉnh mộ. Mộ của R'leo K'Nul, ở ngay bên cạnh, được xây dựng rất đẹp theo mô típ hình chóp nhọn của dân tộc Campuchia; mộ do do chính vua Bảo Đại cho người sưu tầm kiểu dáng và xây dựng để cảm tạ về con voi trắng mà vua voi tặng cho ông và công xây dựng đội tượng binh. Do hai ngôi mộ liền kề nhau và kết hợp hài hòa như một nên chính là lý do vì sao người ta hay nhầm tưởng đây là một ngôi mộ duy nhất và mộ R' Leo mới là mộ vua voi Khun Yu Nốb.
Khu lăng mộ vua voi nằm trong quần thể nghĩa địa của buôn Yang Lành với những ngôi mộ được trang trí bằng tượng nhà mồ, một nét rất đặc trưng của văn hoá Tây Nguyên.
Hiện tại mộ vua voi ở Bản Đôn là một điểm tham quan du lịch quan trọng trong quần thể du lịch Bản Đôn.

Nhà sàn cổ 

Nhà sàn này được làm theo kiến trúc nhà sàn của dân tộc Lào, là nhà của Khun Yu Nốb. Đây là nhà của một thợ săn voi nổi tiếng ở bản Đôn và được mệnh danh là vua voi. Hiện tại ngôi nhà đã có đến trên 115 năm tuổi; được làm hoàn toàn bằng các loại gỗ tốt của rừng già Buôn Đôn như Hương, Căm xe, Cà chít...đặc biệt nhất là ngay cả mái ngói cũng được đẽo gọt công phu từng viên bằng tay từ gỗ Cà Chít.
Trong nhà còn lưu giữ rất nhiều kỉ vật về cuộc đời và đồ nghề săn bắt voi của vị vua voi Bản Đôn và những người kế tục. Giá của ngôi nhà khi xây dựng là 10 con voi lớn và mất gần 3 năm để hoàn thành. Hiện tại Nhà sàn cổ ở Bản Đôn là một điểm tham quan du lịch quan trọng trong quần thể du lịch Bản Đôn.
Nhà trước kia có ba gian, sau này bị sập một gian do cây me cổ thụ bên hông bị đổ nhưng do điều kiện khó khăn và chiến tranh nên không khôi phục được đến giờ thì giữ nguyên hiện trạng hai gian.

Hội đua voi

Là một lễ hội được tổ chức vào tháng 3 hàng năm ở Bản Đôn. Trong lễ hội du khách có thể xem các cuộc tranh tài củavoi từ đá bóng, chạy đua đến bơi vượt sông... Đây là một lễ hội cuốn hút nhiều du khách đến với Bản Đôn - Đắk Lắk.

Rượu A Ma Công

Được ngâm từ thang thuốc gồm độc nhất lá và thân, rễ cây Trơng, một loài cây mọc trong rừng sâu Buôn Đôn. Do nó có một công dụng rất tế nhị và được báo chí nhắc đến rất nhiều nên được nhiều người biết đến tìm mua như một đặc sản, một món quà quý mang đậm chất Bản Đôn.
Rượu lấy theo tên A Ma Công là một huyền thoại sống của vùng Bản Đôn, đến năm 2007 ông khoảng 90 tuổi đang còn khỏe mạnh. Ông là cháu 3 đời của vua voi Khun Yu Nốb, bản thân ông cũng là một Gru kỳ cựu, trong đời đã săn được trên 100 con voi. Người Bản Đôn nói rằng với bài thuốc của mình năm 75 tuổi A Ma Công vẫn rất cường tráng còn lấy thêm người vợ thứ tư và sinh được một con trai.

Gà nướng Bản Đôn

Gà nướng Bản Đôn là một món ăn dân dã nay đã trở thành món đặc sản không thể không thưởng thức với du khách khi đến với Bản Đôn. Nó được chế biến từ gànuôi thả vườn được nướng tay và không ướp bất cứ một gia vị gì; khi ăn được chấm với muối sả và ớt.
Tour liên quan

Tour du lịch lễ 30-4: Buôn Ma Thuột- Gia Nghĩa (3 ngày 3 đêm)

Tin lễ 30-4: Mộ Vua săn voi Khunjunop (DakLak)

Nói đến Bản Đôn (Đắk Lắk) là người ta nghĩ đến voi. Voi đã làm nên “văn hóa voi” độc đáo, cũng như những huyền thoại kỳ thú về “Vua săn voi” Khun Ju Nốp, về những dũng sỹ săn voi (Gru)...

Huyền thoại “Vua săn voi’ 

Ở xã Krông Na, huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk) hiện có một khu nghĩa địa nhỏ với những ngôi mộ được xây cất rất “hoành tráng”, nằm trong một khu rừng thưa, bên cạnh con đường mòn đã được lát xi măng. Hầu hết những ngôi mộ ở đây đều rất cũ, xây cất công phu theo nhiều phong cách kiến trúc khác nhau: Kiến trúc của người Ê Đê, M’nông... Điều đặc biệt nữa là không phải người nào trong vùng khi khuất núi cũng được an táng ở đây. Khu nghĩa địa này chỉ dành riêng cho những Gru (dũng sỹ săn voi) nổi tiếng của Bản Đôn. 


Mộ của “Vua săn voi” – Khun Ju Nốp nằm ở vị trí trung tâm khu nghĩa địa cũng chứng tỏ được đẳng cấp của ông trong số những Gru nổi tiếng của Bản Đôn. Già Ama Kông nổi tiếng của Bản Đôn, là cháu ngoại của Khun Ju Nốp kể: “Vua săn voi” tên thật là Y Thu K’nul. Ông sinh năm 1828, mất năm 1938, thọ 110 tuổi. Ông là một trong những người quan trọng nhất, đã khai phá và sáng lập ra Bản Đôn cùng nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng và là vị tù trưởng nổi tiếng nhất của Bản Đôn (Bản Đôn là cách gọi của người Lào, còn người Ê Đê gọi là Buôn Đôn). Khi còn sống, ông là người có ảnh hưởng lớn, có tiếng nói quan trọng nhất trong cộng đồng các dân tộc Ê Đê, M’nông, J’rai... cùng chung sống ở vùng Bản Đôn, bên dòng Sêrêpốk huyền thoại. 

Vua săn voi” đã săn bắt được hơn 400 con voi, trong đó có nhiều con voi đực một ngà. Đặc biệt, ông săn được con voi đực màu trắng. Theo luật tục, chỉ có các bậc vua chúa mới được sử dụng voi trắng, nên ông đem con voi này biếu cho vua nước Xiêm La và được ông vua này phong tặng danh hiệu Khun Ju Nốp – nghĩa là “Vua săn voi”. Từ đó, ông trở thành “Vua săn voi” của Bản Đôn. Cho đến nay, không một Gru nào ở Bản Đôn vượt qua ông về số lượng voi săn được và cả về số voi quý (voi trắng, voi một ngà…). 

Mặc dù là “Vua săn voi”, lại thọ đến 110 tuổi, nhưng Khun Ju Nốp lại không có con trai nối dõi. Sau khi chết, ông được các cháu ngoại tổ chức xây ngôi mộ bề thế nằm ở trung tâm nghĩa địa của các Gru. Khác với những ngôi mộ bề thế của các Gru ở xung quanh, ngôi mộ của Khun Ju Nốp được xây rất lớn, nhưng lại không có các họa tiết rườm rà cùng các bức tượng chim công, ngà voi sặc sỡ. Ngôi mộ hình vuông lớn ấy được cho là pha trộn các phong cách kiến trúc của Lào, Campuchia và các dân tộc Ê Đê, M’nông. 

Ngôi nhà cổ của Khun Ju Nốp 

Sinh thời, Khun Ju Nốp sống trong ngôi nhà sàn lớn nhất vùng Bản Đôn, nằm ở buôn Trí A, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn. Tuy nhiên, ít ai biết rằng ngôi nhà không phải do “Vua săn voi” tự xây dựng mà là do ông mua lại của một người trong dòng họ. Trước đó, người chủ cũ của ngôi nhà cũng mua lại của một nhà giàu có trong vùng. Vì vậy, trước khi “Vua săn voi’ trở thành chủ sở hữu của ngôi nhà thì không ai biết là nó được xây dựng từ năm nào. Theo người già trong vùng, chỉ tính mốc từ khi Khun Ju Nốp là chủ sở hữu cho đến nay, thì ngôi nhà đã có tuổi thọ khoảng 130 năm. 
Ngôi nhà sàn hơn 100 năm tuổi của “Vua săn voi” Khun Ju Nốp
Cũng theo già Ama Kông, ngôi nhà được Khun Ju Nốp mua với giá “bằng 12 con voi đực có cặp ngà lớn”. Sau khi làm chủ ngôi nhà, “Vua săn voi’ đã làm lễ cúng tốn hết 22 con trâu đực lớn, hàng chục con heo, hàng trăm ché rượu cần… Nguyên bản ngôi nhà gồm 3 gian, được làm hoàn toàn bằng gỗ quý. Khác với nhà dài truyền thống của người Ê Đê, M’nông trong vùng, ngôi nhà cổ này có tới 3 mái nhọn, mỗi gian có một mái riêng. Để lợp phần mái, người ta đã phải công phu đẽo hàng chục nghìn miếng gỗ cà chít (một loại gỗ tốt) để làm vật liệu lợp. Tính ra, chỉ riêng phần mái đã tiêu tốn khoảng 10 m3 gỗ cà chít. 

Sau khi Khun Ju Nốp qua đời, do không có con trai nối dõi nên ngôi nhà được giao lại cho Ama Kông, cháu ngoại của “Vua săn voi”. Ama Kông cũng là một Gru nổi tiếng chỉ xếp sau Khun Ju Nốp. Ama Kông đã từng săn được 298 con voi và là người có số voi săn nhiều chỉ thua Khun Ju Nốp. Năm 1954, ngôi nhà bị cây me lớn bên hiên đổ xuống đè sập mất một gian và cho đến nay những người trong gia đình Ama Kông vẫn chưa có điều kiện tu sửa lại nên nó được giữ nguyên hiện trạng. Hiện ngôi nhà là một điểm du lịch thuộc Trung tâm Du lịch sinh thái văn hóa Bản Đôn. 
P/s:Bạn Quan Jun bổ sung thêm 1 số thông tin
‎*Chính Y Thu K'nul và nữ tù trưởng H' Wăm đã biến Bản Đôn thành 1 một buôn làng giàu mạnh, độc đáo và nổi tiếng. Bản Đôn trở thành 1 trong những buôn làng săn bắt và thuần dưỡng voi rừng có 1 không 2 ở Đông Nam Á *.*
*Người ta gọi "voi trắng" là "Bạch Tượng"
*Ngôi nhà Lào cổ được xây dựng năm 1883, tính đến nay, ngôi nhà này đã được 128 tuổi :O
*Lăng mộ hình chóp bên cạnh mộ hình vuông của vua săn voi được vua Bảo Đại lên idea và desig
Tour liên quan

Tour du lịch lễ 30-4: Buôn Ma Thuột- Gia Nghĩa (3 ngày 3 đêm)