menu

chuyên mục

Giới Thiệu

Nhiều người xem

Hiển thị các bài đăng có nhãn Miền Trung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Miền Trung. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015

Sơn Đoòng- Top du lịch hấp dẫn nhất thế giới (Quảng Bình)


Chuyên mục Du lịch của tờ The New York Times (Mỹ) bình chọn Quảng Bình, Việt Nam vào top 52 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới năm 2014.
Theo đó, Quảng Bình đứng ở vị trí thứ 8/52 điểm đến và đứng 1/12 điểm đến trong khu vực châu Á.

Lý do tạp chí này chọn Quảng Bình vì nơi đây có hang Sơn Đoòng lớn nhất thế giới. Hiện Công ty Oxalis - có trụ sở đặt tại thôn Phong Nha, xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình - đã đứng ra tổ chức tour du lịch mạo hiểm khám phá hang này bắt đầu từ tháng 8-2013.



The New York Times mô tả hang Sơn Đoòng rộng lớn đến nỗi có thể chứa được một tòa nhà cao tới 40 tầng. Du khách còn bất ngờ trước những khối thạch nhũ khổng lồ với đường kính lên tới 260m trong hang.

Phần mái của hang động bị sụp từ nhiều thế kỷ trước đã khiến cây cối mọc um tùm trong hang thành một khu rừng xanh tươi, ở đó có những cây cao to tới 100m. Phía xa xa, du khách còn quan sát được hệ động vật phong phú trong hang như chim mỏ sừng, khỉ và loài cáo bay. Các loài này được khám phá lần đầu tiên vào năm 2009.

Các tour khám phá hang Sơn Đoòng sẽ hạn chế số lượng khách, mỗi tháng chỉ đi được bốn chuyến loại 6 ngày 5 đêm/chuyến và số lượng khách trong năm chỉ khoảng 220 người. Đây là tour dành cho những du khách có sức khỏe tốt và toàn bộ chi phí một tour trên 6.000 USD (tương đương 127,7 triệu đồng).



Trước đó, trong tháng 9-2013, đơn vị tổ chức Công ty Oxalis cho biết số chỗ đặt tour thám hiểm hang động này trong năm 2014 đã kín.

Ngoài ra, du ngoạn trên du thuyền khám phá sông Mekong (đặc biệt là cuộc hành trình trên du thuyền Avalon Angkor khám phá địa phận TP.HCM, Việt Nam - tỉnh Xiêm Riệp, Campuchia) cũng được tạp chí The New York Times bình chọn đứng ở vị trí 35/52 điểm đến và đứng 9/12 điểm đến trong khu vực châu Á.

Theo The New York Times, đứng ở vị trí đầu tiên trong 52 điểm đến là thành phố Cape Town, Nam Phi, nổi tiếng với địa danh núi Bàn. Trải qua 6 triệu năm xói mòn đã hình thành nên phần chóp bằng phẳng độc đáo của núi Bàn với độ cao 1.086m so với mực nước biển. Ngọn núi được xem là biểu tượng của Nam Phi, từ núi Bàn có thể phóng tầm mắt ra khắp thành phố Cape Town.



Khu vực núi Bàn còn sở hữu khoảng 1.470 loài thực vật và nhiều loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Trong năm 2011, núi Bàn chính thức được Tổ chức New Open World  công bố là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới.

Đứng vị trí thứ 2 và 3 trong 52 điểm đền lần lượt thuộc về thành phố Christchurch, New Zealand và vùng North Coast, bang California, Mỹ.

Sơn Đoòng lọt top 12 hang động kỳ vĩ nhất thế giới

Ngày 9/1/2014, tạp chí du lịch Business Insider (Mỹ) công bố danh sách 12 hang động kỳ vĩ nhất trên thế giới, trong đó có tên hang Sơn Đoòng nổi tiếng của Việt Nam.



Tạp chí Business Insider giới thiệu rằng: Hang Sơn Đoòng của Việt Nam hiện là hang động tự nhiên lớn nhất thế giới, được kiến tạo từ khoảng 2 - 5 triệu năm trước bởi dòng sông ngầm dưới dãy núi đá vôi. Hang có chiều rộng 150m, cao hơn 200m, dài ít nhất 5km.

Danh sách 12 hang động kỳ vĩ nhất do Business Insider bình chọn còn có hang Ngọc Lục Bảo (Thái Lan), Waitomo Glowworm (New Zealand), Crystal Caves of Naica (Mexico), Blue Grotto (Italia), Fingal (Scotland), Lascaux (Pháp)…

Du lịch, GO!

Hang Ông Giáp (Quảng Bình)


Ngược con đường 10 huyền thoại, chúng tôi lên xã Ngân Thủy (huyện Lệ Thủy), ghé thăm lại nơi đã từng in dấu chân Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm xưa, nơi người dân Vân Kiều vẫn gọi nó bằng cái tên trìu mến - "Hang Đại tướng", nơi mà câu chuyện về vị Đại tướng lừng danh vẫn được bà con kính cẩn lưu giữ và kể cho nhau nghe.

Ở xã Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) có một quần thể hang động tuyệt đẹp mang tên hang Ông Giáp. Đó là nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng trú ẩn làm việc và bộ đội Trường Sơn nghỉ chân trước khi hành quân vào chiến trường miền Nam.


< Trên bức tường đá phía đông của hang vẫn còn rõ dòng chữ: "1- 1972- đoi co".

Người Vân Kiều xã Ngân Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình) tự hào kể rằng bản làng họ là nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng đến thị sát một thời gian để nghiên cứu địa hình, tìm cách chi viện cho chiến trường miền Nam vào những năm 1972-1973. Ngày đó, Đại tướng từng ở trong hai hang động dọc rặng núi đá vôi Khe Sung, cạnh đường 10 nối đông và tây Trường Sơn.

Từ “nhà hát lớn” của bộ đội Trường Sơn

Chúng tôi được anh Hồ Lâm Hậu, người địa phương, dẫn đường vào hang Ông Giáp. Đó là một hang động nước, phần ngoài được tôn cao để kê bục làm việc. Nước trong hang không biết từ nguồn nào nhưng trong vắt, lội ngập thắt lưng. Qua một ngách nhỏ là một buồng hang lớn, rộng chừng 30 m, đi sâu đến 50 m, trong đó là thế giới của thạch nhũ lung linh, vàng óng, đẹp đến mê hồn. Dulichgo



< Lối vào hang Ông Giáp ở Khe Son đầy thạch nhũ với nhiều hình thù lạ lẫm, đẹp mê hồn.

Một trong những người già nhất vùng là ông Hồ Văn, năm nay đã 80 tuổi, cho biết trước đây hang động này có tên là hang Khe Sung, vì con suối chảy ra từ hang động có nhiều cây sung. Nhưng sau ngày Đại tướng vào ở để làm việc, người dân tự đặt tên và gọi là hang Ông Giáp một cách tôn kính để ghi nhớ công lao của vị tướng tài ba của dân tộc.

Thật ra, trong vùng còn có một hang động khác cũng được đặt tên là hang Ông Giáp, đó là hang ở Khe Son, cách hang Khe Sung chừng 1 km. Đấy là một khu phức hợp kỳ công đầy tuyệt tác của thiên nhiên.

Chúng tôi được người dân địa phương vạch rừng tìm đến, đường dẫn lên hang có 150 bậc cấp dưới tán cây rậm rạp. Vết tích trên tường ghi là xây dựng trong những năm 1970. Dòng chữ màu đỏ ghi “Sở chỉ huy” vẫn còn tươi nguyên. Các con số ngày tháng vẫn còn lộ rõ. Muốn vào hang động phải lách qua một ngách nhỏ, chỉ một người mới chui qua lọt.

Chúng tôi lách người khẽ bước vào, một hành lang rộng rãi dẫn vào một khán phòng khổng lồ. Trong đó đủ cho khoảng 500 người cùng làm việc, có lỗ thông hơi hút khí từ ngoài vào. Đang ở trời nóng bức, vào khán phòng được hưởng không khí mát rượi. Khán phòng được xây dựng tường dày, đổ mái bằng, trên các bức vách vẫn còn đó đường dây điện đài, dấu tích của một thời chưa xa. Theo lối dẫn nhỏ, chúng tôi lên tầng hai của hang động, lối xây cất kiên cố, chắc chắn, trên đó rộng hơn ở tầng dưới, đủ chỗ cho cả ngàn người. Dường như mọi việc của mấy chục năm trước chỉ vừa diễn ra từ hôm qua, thấy đâu đó một không khí nhộn nhịp cho chiến dịch đánh vào Hạ Lào của mùa khô 1972 năm xưa.



Đi ngược lên dãy núi Khe Sung chừng một cây số nữa chúng tôi gặp hang Văn Công, một hang động thoáng rộng, nhiều thạch nhũ kỳ lạ. Nơi đây, các đoàn quân ra trận vào Nam từng ghé lại để thưởng thức các tiết mục văn nghệ do các văn công biểu diễn.

Cựu chiến binh Đinh Tấn Lực, người từng phục vụ trong hang Văn Công trước đây, cho biết: “Chúng tôi hát trên bục cao, dưới lòng hang là vài ngàn bộ đội, có khi con số lên đến cả 3.000 trong lòng hang này. Nhiều khi đang diễn văn nghệ, máy bay địch đến do thám, rồi trút bom nhưng mọi sự vẫn an toàn, bộ đội vẫn nghe hát để ngày mai lên đường”. Thiếu tướng Phan Khắc Hy, nguyên Phó Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, nói: “Đó là những cơ sở an toàn và vững chắc, bí mật và bất ngờ, kín đáo để bộ đội yên tâm hành quân, nghỉ ngơi và điều dưỡng”.

Đến nơi dừng chân của vó ngựa Cần Vương

Bản Cửa Mẹc cũng thuộc xã Ngân Thủy, nằm dưới dãy núi Cửa Mẹc hùng vĩ, nơi đó có hang Vàng sừng sững trải qua hàng triệu năm với nhiều dấu tích thời gian. Tương truyền, thời kỳ Cần Vương, khi bôn tẩu ra tây Quảng Bình và Hà Tĩnh, vua Hàm Nghi đã từng ghé hang này trú chân. Ở đây, người Vân Kiều trong vùng vẫn truyền ngôn câu chuyện về đoàn tùy tùng xa giá đã chôn trong hang một khối lượng lớn vàng trong đó.



Chuyện kể rằng những năm cuối thế kỷ 19, có hai người Vân Kiều lạc vào hang, đốt đuốc trú trong đó ba ngày. Ngoài trời mưa tầm tã, nước ở trên đỉnh núi trôi tuột vào lòng hang, chảy xối xả ở một lỗ thông hơi, dòng nước xói dần bụi bặm đất đai ở góc hang. Trong ánh lửa bập bùng, thấy lóe lên vật dụng màu vàng, hai người Vân Kiều liền đến xem và phát hiện nhiều đồng tiền vàng, một số kiếm báu, các đồ đồng. Họ về kêu dân làng đi đào, phát hiện rất nhiều vàng trong hang.

Thời đó có một thủ lĩnh trong vùng theo tiếng gọi Cần Vương đã đến động viên dân bản nộp lại cho người đại diện của vua Hàm Nghi từ Minh Hóa vào. Họ nộp hết cho nhà vua. Và từ đó hang Vàng được định danh.

Câu chuyện cứ hư hư, thực thực. Chúng tôi hỏi những người Vân Kiều già ở Cửa Mẹc như ông Hồ Vừ (75 tuổi) thì được trả lời: “Mình nghe người xưa kể thế chứ chưa thấy vàng trong đó bao giờ. Chắc bố mình hay ông nội mình thấy mới kể cho mình nghe thôi”.

Chúng tôi bước vào bên trong hang Vàng. Một không gian lộng lẫy, cổ xưa hiện ra. Quanh hang có đến ba cửa và bốn lỗ thông hơi tự nhiên. Nơi cao nhất khoảng 50 m, rộng nhất hơn 40 m. Có một buồng hang ở tầng thứ hai rộng đến 70 m, nơi đó được dùng làm khán phòng hội họp thời chiến, có thể chứa hơn 2.000 người. Điều đặc biệt của hang động này là được cải tạo, xây dựng nền hang bằng phẳng để làm nơi chứa hàng và nghỉ ngơi tránh bom đạn. Trên vách hang có đề từ một bài thơ bằng nét than của bộ đội ngày xưa: “Trăng lên đỉnh núi trăng tà/ Sao không đứng đó xem ta bốc hàng/ Bên anh thi với bên nàng/ Đố ai ghi được chữ vàng chiến công”.

Thạch nhũ trong hang vẫn còn nguyên vẹn với những cột trụ tự nhiên cao hàng chục mét, những bức tường thạch nhũ chạy dài ngút ngát. Chúng không cũ nát vì khói thuốc của bom đạn mà vẫn tươi nguyên những tí tách từ dòng nước trên đỉnh núi.



< Bức tường thạch nhũ ở hang Vàng.

Sự cuốn hút của hang Vàng còn có một dấu ấn khác. Ở cuối căn phòng hơn 1.000 m2 là vương quốc của loài dơi. Chúng đông dễ chừng đến cả hàng triệu con. Tiếng đập cánh của chúng vù vù như tiếng động cơ trực thăng bên tai. Dưới nền đất là bãi phân của chúng dày đến 3 cm. Người dân địa phương nói vào khu vực đó không nên hút thuốc hoặc dùng lửa, nếu không coi chừng ngọn lửa sẽ bùng lên bởi nơi đây chứa đầy khí metan do phân dơi sinh ra. Thấy động, đàn dơi đang nằm treo tít trên trần hang bỗng giật mình vỗ cánh bay loạn xạ từng lớp, từng lớp ngỡ như không bao giờ hết.

Có thể nói vẻ đẹp nguyên sơ của hang Ông Giáp và hang Vàng vẫn còn nguyên sơ, kỳ vĩ. Tuy vậy, các hang động ở đây đang gióng lên nỗi lo cần được bảo vệ. Hang Ông Giáp ở Khe Sung đang bị bôi bẩn bởi những người địa phương đưa bia và thực phẩm vào ăn nhậu. Trong khi đó, hang Ông Giáp ở Khe Son lại bị ai đó vẽ bẩn lên mặt tường. Đó là chưa nói hang Văn Công hiện đang bị người dân tìm bẻ thạch nhũ về làm hòn non bộ. Duy chỉ có hang Vàng ở Cửa Mẹc là nguyên vẹn vì người trong vùng không cho người lạ vào phá phách.

Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

Cù Lao Xanh- Quy Nhơn (Bình Định)


Ðêm đêm, nếu từ bờ biển Quy Nhơn phóng tầm mắt ra khơi xa, giữa hàng trăm đốm sáng của ghe chài lung linh tựa hoa đăng: du khách sẽ bị cuốn hút vào một ngọn đèn xanh lúc ẩn, lúc hiện, vừa huyền diệu, vừa bí ẩn . Ðó chính là ngọn hải đăng trên đảo Cù Lao Xanh, một hòn đảo đẹp của TP. Quy Nhơn, Bình Ðịnh.

Cù lao Xanh cách bến Hàm Tử - Quy Nhơn 28 km, đi ghe 3 lốc khoảng 1 giờ 45 phút tới ngay xã Nhơn Châu trên đảo với chừng 2.500 cư dân. 

Cù Lao Xanh còn gọi là đảo Vân Phi là một hải đảo nằm gần vịnh Xuân Đài, thuộc xã Nhơn Châu, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Đảo có tổng diện tích trên 450ha trong đó có 75% diện tích là đồi núi đá và rừng cây, dân số khoảng: 2500 người gồm các thôn: Thôn Tây (trung tâm), Thôn Trung, Thôn Đông. 



Đảo cách xã Xuân Hoà (Sông Cầu - Phú Yên) 6 km, cách bến Hàm Tử - Quy Nhơn 28 km. Cù Lao Xanh nguyên là đất của tỉnh Phú Yên được sáp nhập về Quy Nhơn sau năm 1975.

Trong chủ trương phát triển tiềm năng kinh tế và an ninh quốc phòng biển, đảo: Cù Lao Xanh đang được xây dựng án xây dựng "Đảo Thanh niên", trong đó có những công trình lớn như kéo cáp điện ngầm từ đất liền, trang bị 3 tàu chuyên dụng vận tải khách và hàng hoá với công suất lớn; xây dựng một bến đậu tàu thuyền...v.v




Gần đây, đảo được biết đến là một điểm tham quan, du lịch lặn hấp dẫn. Nơi đây có nguồn tài nguyên biển khá dồi dào và phong phú, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển, du lịch sinh thái nhưng chưa được khai thác và bảo vệ hợp lý.

Muốn ra đảo phải đi tàu, tàu đi Cù Lao Xanh - Nhơn Châu thường xuất bến Hàm Tử khoảng từ 13h00-13h30, qua đến NC là đã chiều tối (nếu đi ghe 3 lốc chỉ mất khoảng 1 giờ 45 phút).

Hoặc tiện hơn có thể xuống Bãi Xếp, thuê thuyền của ngư dân đi Cù Lao Xanh, từ đây xuất phát đi Nhơn Châu có thể rút ngắn được một quảng đường biển khá dài, đỡ bớt say sóng.



Vào năm 2008: ngoài ấy chỉ có nhà nghỉ của ủy ban xã dành cho cán bộ còn người ngoài chỉ có cách ngủ nhờ nhà dân. Thời ấy phải nhớ đem theo giấy CMND bởi vừa bước xuống đảo là có mấy chú bộ đội "hỏi thăm" liền.

Từ cầu cảng trên đảo đi bộ một cây số nữa ra gành Bấc - nơi có thể tắm táp và đuổi bắt cá. Buổi sáng đầu tháng tám, trời rực nắng, nước càng trong vắt và dường như mọi sinh hoạt trong lòng biển đều có thể thấy bằng mắt thường. Tại đây có rất nhiều loại cá như cá chim, cá kình, cá mó, cá phèn, cá lao... không lớn lắm nhưng vừa đủ "sơi". Gom củi rừng, xỏ xiên cá nướng chấm muối ớt, chén ngay tại bãi - tươi ngọt và thơm lừng! Số còn lại mang về nhà dân nhờ nấu canh chua lá giang làm bữa cơm đảo thú vị. 



Không chỉ có đuổi bắt, bạn mang theo cần câu còn hấp dẫn hơn, trong các vũng nước quanh các ghềnh đá, cá đang lượn lờ và vờn mồi trước mặt để câu. Hoặc đem theo khều móc nạy hào, ốc kẹp bám theo đá nấu cháo. 

Hào có thể dùng ngay bằng cách hơ trên lửa, hào há miệng, vắt chanh lên; điệu nghệ hơn nặn chút mù tạt là ăn được ngay. Đến đảo, bạn nên liên hệ trước với dân địa phương để mượn đồ nghề hay mời họ cùng đi dã ngoại. Và nhờ nấu cơm "gia đình" vì ở đây không có quán cơm, dịch vụ ăn uống. Hoặc liên hệ nhà ghe, họ có thể chuẩn bị lưới, cần câu... và tổ chức nấu nướng, ăn ngủ luôn trên ghe. 

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Thị Trấn "Giang Hồ" (Quảng Nam)


Chưa có công ty du lịch nào chính thức đưa tour khám phá văn hóa dân tộc Phước Sơn, kể từ lễ hội văn hóa và một hội chợ du lịch miền núi vài năm trước. 

Chỉ có những lời đồn đại về một thị trấn vàng, phảng phất không khí lạnh lùng, kiêu bạc đầy nghi hoặc như các thị trấn giang hồ dọc miền viễn Tây trong truyện của Jack London, đã khiến nhiều người e ngại lẫn tò mò tìm gặp...

Có thể chọn 2 ngả đường. Từ Đà Nẵng ngược quốc lộ 14B (82 km) qua Nam Giang, xuôi đường Hồ Chí Minh đến; hoặc từ Tam Kỳ theo quốc lộ 14E (100km), từ ngã ba cây Cốc (Hà Lam) lên tới ngã ba làng Hồi sẽ gặp Phước Sơn.



1. 14 giờ ở Tam Kỳ, 17 giờ đã chạm mặt Khâm Đức. Con đường Hồ Chí Minh xẻ ngang lòng thị trấn, cỏ cây dọc đường và cánh rừng trước mặt chợt óng ả, tinh khôi sau vài cơn mưa đẫm nước. Chưa kịp tàn bữa cơm chiều nơi một quán ăn không nhớ nổi tên, bóng tối và sương mỏng cùng những tia sáng yếu ớt hắt ra từ các căn nhà đã phủ lên thị trấn một màu “lành lạnh”.

Thi thoảng vài ánh đèn pha ô tô, xe máy quét ngang qua phố núi, rồi lẫn khuất vào cuối đường. Chỉ còn tiếng nhạc boléro rền rĩ suốt một dãy phố, tiếng trẻ con nói cười chát chít trong vài quán internet hòa lẫn tiếng lao xao chạm cốc, trò chuyện rôm rả dọc các quán rượu bày trên phố và dưới tán cây ven đường... Người ta bảo, mấy năm trở lại đây, thị trấn hoang liêu này đủ sức “liên lạc” với cả thế giới bên ngoài từ các dịch vụ internet và mạng di động đã phủ sóng...



Bác xe thồ đứng tuổi đợi khách ở trạm xăng cuối phố cho biết thị trấn bây giờ đã hiền lành hơn trước rất nhiều. Thi thoảng mới có vài cuộc đụng độ giữa đám “giang hồ tứ chiếng” đãi vàng, nhưng ở tận đâu Phước Kim, Phước Thành. Song những lời đồn đại đầy “ám ảnh”, nghi hoặc về một thị trấn phảng phất hơi hướng lạnh lùng, kiêu bạc như các thị trấn cao bồi, giang hồ của miền viễn Tây đã khiến du khách e ngại lẫn tò mò, rón rén đi dọc thị trấn. Quả thật cũng chẳng có gì ngoài các âm thanh đã gặp với bao cái nhìn chờ đợi... một ngày của cư dân thị trấn - vốn buồn tẻ như bao phố huyện hoang liêu trên dọc đường gió bụi vùng cao khác.



Đêm mịt mù trôi qua trong tiếng gió thổi ngoài bãi vắng, lướt qua mặt sân bay dã chiến cũ còn nguyên phi đạo dài 1 km, rộng 50 m rồi rít qua khe cửa khách sạn giữa trung tâm thị trấn. Một khách sạn vùng cao mà chẳng khác gì giữa phố đồng bằng: sang trọng, rộng, đủ tiện nghi, chỉ thiếu... máy lạnh (như Đà Lạt). Cô lễ tân vui vẻ “khoe” rằng nhiều du khách đã chọn nơi này qua đêm. Ngoài khách sạn 24 phòng, khách có thể tìm thấy vài nhà nghỉ và nhiều quán ăn hấp dẫn khác ngay thị trấn...

2. Đúng như lời giới thiệu của tay tài xế có máu mạo hiểm. Cung đường từ thị trấn đến đèo Lò Xo quả là đẹp nhất trong suốt 175 km đường Hồ Chí Minh qua Quảng Nam. Xe trôi theo con đường đầy hiểm trở, uốn lượn quanh sườn đồi, như cầu vồng, qua nhiều cánh rừng rậm, lọt giữa các khe núi trập trùng nối tiếp nhau...



Lác đác vài cư dân địa phương gùi dưa, thơm trên những chiếc gùi mộc, lầm lũi xuôi dốc. Không ít khách du lịch dừng lại bên cầu thác nước (km 283), ngắm dải nước mờ như bức rèm thưa ẩn hiện giữa đại ngàn của thác Bà hoàng Mô nich, hoặc chụp ảnh kỷ niệm giữa đường...

Từ trên đỉnh Lò Xo (không quên thắp một nén hương tưởng nhớ các vị cựu chiến binh gặp tai nạn trong ngày trở lại vài năm trước ở cuối dốc đèo - một khám thờ dường như không lúc nào tắt lửa chân hương), đã có thể ngắm nhìn non sông thủy tú. Xa xa là cánh rừng lá vàng - màu vàng như trong tranh của Levitan, phía dãy núi Ch'lum Heo ở Ngọc Linh, vàng suốt quanh năm...



Và, đám người “thám hiểm” đã phải vất vả leo lên cứ điểm Ngok Tak Vak ở độ cao 378m so với mặt nước biển, thuộc Phước Mỹ, cách thị trấn Khâm Đức 7km. Dù cứ điểm giờ chỉ còn dấu tích của sân bay trực thăng dã chiến, lọt giữa một rừng đồi núi trập trùng, và cũng chỉ vọng lại tiếng hô xung phong công đồn của quân giải phóng ngày 9-5-1968.

Rồi khách trở lại cũng để ngắm nhìn sân bay, đồi E và lang thang cùng thị trấn, dường như chỉ có mùa thu hanh hao se lạnh và mùa đông lướt thướt mưa qua...



3. Năm trước, một cuộc hội thảo về du lịch khám phá văn hóa dân tộc miền núi dọc đường Hồ Chí Minh mở, đã kéo những người khát khao du lịch về Khâm Đức, bàn tính chuyện tương lai. Những cái tên thác Nước Lang, thác Bà hoàng Mô- ních, cứ điểm Ngok Tak Vak, di tích đồi E, sân bay Khâm Đức..., dù không còn lưu giữ các hiện vật lẫn bãi vàng Phước Đức vẫn được chọn, làm vệ tinh cho trung tâm du lịch Khâm Đức, để có thể khai thác các tour đặc thù dành cho các cựu chiến binh đã từng tham chiến tại khu vực này.



Từ đó, dân địa phương đã âm thầm sửa sang lại đường, xây nhà nghỉ và tập làm... dịch vụ, mơ ngày đón khách, thay vì như đã từng “đón” đám “giang hồ tứ chiếng” lên thị trấn, chuẩn bị những cuộc săn vàng như trước đây.

Một ngày thôi đã hết. Xe cuốn bụi mù trở lại phố. Vẫn còn vọng lại lời cô hàng cà phê nơi phố núi: “Thị trấn em như một cô công chúa, mỏi mòn chờ đợi... Ngày anh trở lại, thị trấn đã là thị xã. Một Tây Đô của Quảng Nam đấy! Tha hồ làm giàu...”.

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Cao Nguyên Vân Hòa (Phú Yên)


Cao nguyên Vân Hòa được xem như một góc Đà Lạt của tỉnh Phú Yên do khí hậu tại đây mát mẻ quanh năm. Vân Hòa nằm ở độ cao 400m so với mực nước biển, nằm trên tỉnh lộ số 643 Hòa Đa đi Tân Lương, Trà Kê.

Cao nguyên bao gồm các xã Sơn Xuân - Sơn Long và Sơn Định. Vân Hòa thoáng mát, phủ đầy rừng xanh và đồng cỏ còn nhiều hoang sơ.

Tại đây có ngôi làng nhỏ cùng tên Vân Hòa thuộc xã Sơn Long, huyện Sơn Hoà - Phú Yên. Ngày trước, làng Vân Hoà có nhiều cánh rừng nguyên sinh với nhiều loài hoa lan hiếm như Hồ Điệp, Tai Tượng, Kim Điệp…



Đặc sản nổi tiếng của Vân Hòa là mít và thơm. Mít Vân Hòa ngọt, dòn, vàng ươm màu mật ong; thơm Vân Hòa ít mắt, ngọt. Từ hai loại nông sản này, người dân đã tạo ra món mắm độc đáo không nơi nào có được. Những sản vật mang đậm bản sắc Phú Yên được bán ở khắp nơi tại cao nguyên Vân Hòa, đặc biệt là ở chợ Đồn.

Ngoài ra, làng còn có một loại trái cây rừng là trái đỏ. Đến mùa trái chín đỏ, mọc dày thành từng chùm từ gốc lên đến tận nách thân, trông rất đẹp mắt. Đến Vân Hòa vào dịp cuối xuân, đầu hạ, đường râm mát bóng cây, tiếng ve rền rỉ ngân nga.



Vân Hòa chỉ đông dân ở Chợ Đồn, dân chúng tập trung quanh chợ và rải rác trong vùng sâu, trên những triền dốc thoai thoải. Xưa nay, thổ sản chính tại đây là thơm, mít trồng xung quanh vườn trên các sườn núi do thổ nghi hợp với cây này. Giống mít có tàn lá sum sê phủ kín núi đồi, dưới gốc mít thì trồng thơm. Thơm Chợ Đồn trái không lớn nhưng tròn, mắt lớn, ruột màu hồng không tái nên nổi tiếng. Những năm 1960 về trước, vườn ở Vân Hòa, Phong Cao, Lương Sơn đến thời vụ các nới đi ngựa, xe gánh gồng về mua thơm, mít, trái đỏ rất tấp nập.

Truyền thuyết kể rằng ngày xưa, rừng Vân Hòa bổng xuất hiện một con thuồng luồng hung dữ. Nó sống trong một cái hang sâu, nay gọi là hang Thuồng Luồng. Con quái vật này to lớn khác thường, dài đến hơn trăm bước chân, thân hình to bằng gốc bằng lăng bốn người giang tay ôm không hết, mình đầy gai và vẩy lấp lánh lân tinh. Hàng đêm, quái vật thường bò ra khỏi hang vào tận trong làng bắt gà vịt, rồi heo dê, đến trâu bò và bắt cả người lớn trẻ con ăn thịt. Do vậy nên dân làng đối phó bằng cách bỏ nhà, leo lên những ngọn cây to cao để lẩn tránh.



Một ngày kia có người mách rằng, làng Thượng có một người đàn ông, góa vợ, chỉ có một đứa con trai, chuyên nghề bắn nỏ, có thể trừ được con quái vật. Dân làng Vân Hoà bèn cử người khăn gói ra đi, thỉnh mời ông đến cứu giúp. Sau khi nghe câu chuyện, ông nhận lời và lập tức lên đường với người con trai, mang theo cung tên.

Đến làng, cha con ông Chăm Mùng cùng dân làng cất một chòi cao bằng những cột gỗ ké thật chắc canh chừng ác thú. Một tháng hai tháng rồi ba tháng… trôi qua, con thuồng luông vẫn biệt dạng, khiến ông Chăm Mùng thất vọng gói ghém hành lý trở về buôn cũ. Khi ông vừa bước xuống khỏi bậc thang cuối cùng, đặt chân lên mặt đất bỗng nhiên mùi hôi thối xông lên nồng nặc, con thuồng luồng lao ra như mũi tên, nhằm thẳng chỗ ông đứng phóng tới.



Ông Chăm Mùng giương cung nhắm vào hai mắt thuồng luồng bắn khiến nó đau đớn và hung tợn hơn, quật đuôi làm lung lay chiếc chòi đứa con trai ông còn đang đứng trên đó. Bắn hết tên cũng chỉ nó bị mù, quẫy mạnh cả thân hình làm thành một một vệt dài sâu tựa lòng con suối lớn (sau này dân làng Vân Hòa gọi là suối ông Năm (ông Chăm? Sau này, khi thành lập nông trường cà phê Vân Hòa chiếc hố này được vét sâu và rộng đến mấy mẫu tây làm hồ chứa nước tưới cho cây cà phê). Cuối cùng, quái vật ngã gục bằng một mũi nỏ tẩm độc trúng ngay đầu.



Sau khi trừ khử được con ác thú, cha con ông Chăm Mùng cáo từ dân làng trở về buôn cũ. Về sau khi ông chết, mỗi khi cúng thổ trạch, gia tiên, ngày lễ tết… người dân làng Vân Hòa đều sắm một mâm riêng để dâng cúng vong linh ông gọi là mâm cơm cúng “phụ tử Chăm Mùng”. Tục lệ này kéo dài mãi đến những ngày gần đây mới bỏ hẳn.

Để đến đây: Từ thành phố Tuy Hòa, bạn theo Quốc lộ 1A đi về hướng Bắc khoảng 14 km. Đến thôn Hòa Đa sẽ gặp ngã 4 Hòa Đa, rẽ trái theo đường ĐT 643 ngược lên hướng Tây khoảng 25 km sẽ đến cao nguyên Vân Hòa.

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

Huế cũng có một "Đà Lạt" (A Lưới- Huế)


Được ví như 'Đà Lạt' của Thừa Thiên Huế, huyện vùng cao A Lưới là lựa chọn số 1 cho những ai muốn trốn cái nắng chói chang, bức bối những ngày hè tại miền Trung.

A Lưới là huyện vùng cao phía Tây của tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích tự nhiên 1.224,64 km2. A Lưới có vị trí địa lý kinh tế, quốc phòng vô cùng quan trọng của tỉnh Thừa Thiên Huế và khu vực Bắc Trung Bộ. Nơi đây có dãy Trường Sơn hùng vĩ; là thượng nguồn của 5 con sông lớn; A Lưới nằm án ngữ tuyến biên giới phía Tây tỉnh Thừa Thiên Huế, giáp hai tỉnh Salavan và SêKông của nước bạn Lào.



< A Lưới là một huyện miền núi biên giới của tỉnh Thừa Thiên-Huế, tiếp giáp với Lào ở phía Tây.

Toàn huyện có 21 đơn vị hành chính, bao gồm thị trấn A Lưới và 20 xã là: Hồng Thuỷ, Hồng Vân, Hồng Trung, Hồng Kim, Hồng Hạ, Bắc Sơn, Hồng Bắc, Hồng Quảng, A Ngo, Sơn Thủy, Nhâm, Phú Vinh, Hồng Thái, Hồng Thượng, Hương Phong, Hương Lâm, Hương Nguyên, Đông Sơn, A Đớt, A Roàng.



< Ven đường, hoa dại nở hoa tím ngắt, những con suối róc rách bên đường...

Thị trấn A Lưới là trung tâm huyện lỵ, cách thành phố Huế khoảng 70 km về phía Tây. Dân số huyện A Lưới năm 2013 hơn 46.000 người, mật độ dân số bình quân 37 người/ km2 ; có 5 dân tộc: Pa Kô chiếm 37,5%; Tà Ôi 37,2%; Ka Tu 10,5%; Pa Hy 10,5% còn lại là dân tộc Kinh 9%.


< Thác A Nôr vẫn còn giữ nguyên nét hoang sơ vốn có.

Là vùng đất có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống đã tạo cho A Lưới những bản sắc văn hóa riêng có của từng tộc người từ tiếng nói đến ăn, ở, mặc, phong tụ... đồng hành bên cạnh những nét văn hóa chung của toàn tỉnh.

Ở độ cao 700m so với mặt nước biển, A Lưới có khi hậu tương đối ôn hòa, mát mẻ, nhiệt độ trung bình 21oC. Sáng sớm và chiều tối, mây trắng phủ kín sườn đồi. A Lưới nằm trên tuyến quốc lộ 49 nối đường Hồ Chí Minh với quốc lộ 1A. Đây là trục giao thông Đông-Tây quan trọng kết nối A Lưới với quốc lộ 1A, thành phố Huế và các huyện đồng bằng.



< Làng mạc yên bình dưới chân núi với những ngôi nhà sàn.

Cách thành phố Huế 70 km về phía Tây, đường lên A Lưới quanh co uốn lượn với những đồi núi nối đuôi nhau khiến phượt thủ không khỏi choáng ngợp. Xa xa những đám mây trắng xóa vui đùa trên những ngọn núi trông đẹp đến lạ lùng.



< Thu hoạch lúa.

Đi hết đèo A Co, đèo cuối cùng cũng là đèo hiểm trở nhất với chiều dài 16km, đổ dốc xuống là thị trấn A Lưới. Thị trấn xinh đẹp chạy dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh, nhỏ xinh nằm giữa thung lũng bao bọc bởi núi rừng trùng điệp.



< Cô gái Pa Kô.

Thác A Nôr cách trung tâm huyện chỉ 3 km về phía Đông Bắc được xem là ngọn thác đẹp nhất vùng sơn cước này. A Nôr được ví như dải lụa giữa đại ngàn Trường Sơn. Nó vẫn giữ nguyên nét hoang sơ vốn có. Thật tuyệt khi được đắm mình trong dòng thác trong mát và ngước nhìn bầu trời xanh cao vút.



< Gùi hàng ra dọc đường để bán.

A Lưới có tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua với chiều dài trên 100 km chạy dọc với những cánh rừng nguyên sinh xanh ngút một màu. Những bản làng của đồng bào Tà Ôi, C’Tu, Pa Kô… bình dị nằm bên sườn đồi.



< Cảnh sắc bình dị nên thơ.

Những đứa trẻ ngây ngô nhìn chăm chú các vị khách vùng xuôi đầy tò mò và thích thú. Chiều chiều, người dân gùi củi đi về trên đường.

Giữa chốn sơn thủy hữu tình ấy được vi vu lái xe ngắm cảnh là một trải nghiệm cực kỳ thú vị.



< Tạm biệt A Lưới với những đoạn đường uốn khúc quanh co.

Ngoài ra còn có vô số nơi khiến bạn ngỡ ngàng như suối nước nóng Tôm Trung, thác Pông Chất, hang động Kềnh Crâm, hầm A Roàng… và hàng trăm ngọn suối cùng nhiều con sông uốn lượn bao quanh thung lũng A Lưới như sông A Sáp, A Lin, Tà Rình...

Dưới cái nóng nực bức bối của chốn thị thành, tạm quên đi mọi thứ và thử khám phá cuộc sống chậm rãi của miền sơn cước A Lưới xinh đẹp, là một trải nghiệm thú vị, đáng nhớ.