menu

chuyên mục

Giới Thiệu

Nhiều người xem

Hiển thị các bài đăng có nhãn Miền Bắc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Miền Bắc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015

Huyền thoại Núi Nam Giới (Thạch Hà- hà Tĩnh)


Nhắc đến trầm tích văn hóa miền hạ lưu Thạch Hà, hàng trăm du khách xa gần không thể quên vẻ đẹp dãy núi Nam Giới. Dãy núi giấu trong lòng bao pho sử thi huyền thoại mà con người càng khám phá, càng ngưỡng mộ.

Từ bến cảng Cửa Sót (Hà Tĩnh), đi thuyền chưa đầy mười phút, du khách đã đặt chân lên dãy núi Nam Giới. Đây là một dãy núi dài, từ bao đời sừng sững, uy nghi, dầu nắng hay mưa vẫn ngút ngàn màu xanh bất tận. Núi Nam Giới không chỉ có cây cỏ, chim thú, núi non mà còn có những ngôi đền cổ kính. Dưới chân núi, sóng vỗ rì rào, sóng dờn dợn mơn man, càng tô thêm vẻ đẹp biển và núi, nhất là những lúc mặt trời vừa ló lên từ đằng đông trong hơi sương bảng lảng.

Theo nhận định của học giả Bùi Dương Lịch, cách đây 2 thế kỷ, “Sông Hoàng Hà đi qua các xã Hoa Mộc và Dương Luật rồi chảy ra biển”. Một nguồn tư liệu cũ khác chép lại: “Ngày xưa, núi Mộc Sơn (Hòn Mốc) tức là hữu Nam Giới. Cửa bể phía Nam núi ấy, nhưng về sau, sông bể đổi dời, dòng nước lấn lên phía Bắc”. Còn các bậc cao niên thường truyền ngôn cho con cháu mình: ngày xưa, đó là một lạch sông chảy qua các xã Thạch Đỉnh, Thạch Bàn, Thạch Hải. Hiện nay, còn có khe nước cũ chảy qua xã Thạch Bàn, đây là chứng tích của dòng sông cũ. Rõ ràng doi đất Kim Đôi ngày trước gắn với ngọn núi Long Ngâm.




Vẻ đẹp của núi Nam Giới đã khiến bao tao nhân, mặc khách tìm đến ngâm thơ, thưởng nguyệt. Những áng văn sáng rỡ như ánh trăng đêm rằm của Cử nhân Lưu Công Đạo thuở xưa, cho tới nay, người đời đọc lại vẫn thấy lung linh: “Bên hữu cửa bể là núi đất Kim Đôi, một dãy cát vàng từ núi Côn Bằng chảy ngang qua cửa bể. Trên khúc sông ấy có đồn binh, chợ, thuyền bè san sát, bến thuyền bốc khói, tỏa mờ mặt sông. Chiều hôm, mặt trời sắp xuống khỏi núi đằng Tây, mặt sông đèn lửa nổi lên lập lòe. Chập tối, thuyền đánh cá dong buồm về bến, nhìn qua cảnh ấy, kẻ có tâm hồn thường ứng họa, trong lòng cảm thấy thư thái, phiêu bồng”.



< Cửa Sót và dãy núi Nam Giới thuộc huyện Lộc Hà.

Nhà vua Lê Thánh Tông ham thích du sơn, du thủy và có tâm hồn thi sĩ thường ứng tác đề thơ nhiều danh thắng. Tại vùng biển núi Nam Giới, hai câu thơ của vua Lê Thánh Tông vẫn còn được lưu truyền: Dulichgo

Sáng qua tỉnh mộng giang hồ,
Cưỡi bè những muốn lên xô cửa trời.

Người xưa đã ví núi Nam Giới như một bức bình phong, trong bức bình phong tưởng chừng như trầm tịch, cô liêu lại chẳng bao giờ ngưng lặng âm thanh. Từ thuở hồng hoang, khi bình minh lên đã nghe ríu rít chim gọi đàn, trong chiều tà đã nghe tiếng vượn hú gọi con. Chim và thú được núi Nam Giới nuôi dưỡng và núi cũng đẹp hơn, lãng mạn hơn, khi được góp thêm làn nhạc của muôn loài. Dường như đã sinh ra núi lớn thường có nhiều hang động. Núi Nam Giới cũng vậy. Trời đất đã ban cho dãy núi dài nhiều hang đá kỳ vĩ. Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, tiếng suối chảy róc rách hòa nhịp với tiếng sóng ngoài khơi vỗ bờ, khiến bao cảnh vật bị thôi miên trong một thế giới tiên cảnh.



Không phải bây giờ mà hàng trăm năm trước, Nam Giới đã được khách thập phương tìm đến, ngoài thú vui tao nhã còn là hoài niệm, tưởng vọng, thành kính nét đẹp văn hóa tâm linh.

Đền thờ Chiêu Trưng Đại vương Lê Khôi còn gọi là đền Vũ Mục hay là Linh Cổ (Trống thiêng) và khu đất mà đền tọa lạc này cũng được gọi là núi Linh Cổ. Không biết ngọn núi cao bao nhiêu, nhưng các nhà khảo cứu từ xa xưa khẳng định rằng: “Ngọn núi cao nhất phía Đông bắc, hình như trán rồng. Liền ở dưới có một dải sông, núi hình như vòi rồng. Hai bên tả hữu có hai tảng đá hình như mắt rồng. Dưới núi có ao lộ thiên rộng vài mẫu và rất sâu hình như miệng rồng. Xung quanh ao toàn là cỏ rậm và bùn lầy không thể vào được. Hai bên có hai nhánh núi ôm quặp lại, hình như hai chiếc râu rồng. Nước ao chảy quanh co, quanh núi ra bể. Ngoài biển lại nổi lên một ngọn, chắn ngang, sóng kêu ầm ầm như sấm động”.



Phần Bắc của dãy núi Nam Giới là hòn Lố và ngọn Long Ngâm, cách nhau một eo nước sâu, lúc thủy triều dâng thì ngập nước, gọi là Eo Lói.

Một hành khách từ Nam bộ khi đến Khu di tích đền thờ Lê Khôi đã thốt lên: “Tôi thực sự ngưỡng vọng khi đền Đại vương được trùng tu trang nghiêm, cổ kính để làm sống niềm tự hào trang sử dân tộc. Tôi thấy rất sảng khoái khi tận mắt xem các bãi đá tự nhiên dưới chân núi”.

Quả đúng như vậy, bước xuống Eo Lói, du khách sẽ ngỡ ngàng với những hòn đá kỳ diệu, mà cổ nhân đã đặt tên: đá Trồng, đá Hến, đá Nhọn, đá Giường. Cạnh hòn Lố là hòn Môi, nhìn xa chẳng khác gì một ngôi nhà nổi trên mặt nước. Ngoài hòn đá Tượng chồng cao, phía trên có suối chảy róc rách là một quần thể đá Am, đá Lố, đá Ngựa… Tất cả như muốn gửi tặng du khách một nụ cười tươi tắn.



< Đền thờ Chiêu Trưng Đại vương Lê Khôi.

Phía Tây ngọn Long Ngâm là đền Chiêu Trưng, phía Đông đỉnh núi có hai nền đất bằng phẳng, hình chữ nhật. Theo truyền thuyết, đời Hùng Vương, chàng Chử Đồng Tử và nàng Tiên Dung, sau những lần đi vãn cảnh đã mê đắm chốn này, bèn chọn làm nơi tu tiên, đắc đạo và đặt tên cho ngọn núi là Quỳnh Viên. Thực ra, gọi Quỳnh Viên hay Quỳnh Sơn thì cũng là tên cũ của núi Nam Giới. Núi Nam Giới càng dài bao nhiêu càng vẽ nên những bờ cát mơ mộng bấy nhiêu, không ít những bãi cát trong nay mai sẽ là điểm dừng chân dài ngày cho du khách. Gần cuối mỏm núi, giáp đất Dương Luật (xã Thạch Hải) hiện vẫn còn một miếu thờ nhỏ gọi là đền thờ Đức Thánh Mẫu. Những ngày lễ tết, dân chúng vẫn thường đến ngôi đền thiêng này dâng lễ vật và cầu phúc, cầu tài, cầu lộc.

Tiếp giáp với ngọn Long Ngâm là ngọn Nam Sơn, trên cũng có một ngôi đền Thánh Mẫu. Dân bản xứ ở đây thường quen gọi là đền Nam Sơn. Dulichgo



Ngôi đền tuy nhỏ, nhưng cảnh quan thật diệu vợi. Ngọn Hỏa Hiệu thấp, nhỏ nhưng ít ai biết rằng đây là cứ địa “đốt lửa trại” của tướng sĩ khi quân giặc đến. Tại núi này còn có một ngôi miếu khác, người ta dành riêng để thờ thần Cá Voi. Theo quan niệm của ngư dân vùng biển, họ ngàn đời tôn quý cá voi, với những ngôn từ xưng hô rất trịnh trọng là “Ông” hay “Ngài”. Không ít ngư dân khi gặp hoạn nạn, đắm thuyền đã được cá voi cứu vớt. Từ ngọn Nam Sơn, thế núi thấp dần. Tận cùng cánh núi này là vùng đất Thạch Bàn, Thạch Hải. Dưới chân núi có những địa danh nghe rất ngộ như: Áng Gát, Áng Vôi, gành Trôốc Men, đá Rùa…, với nhiều ngọn “tiểu khê” được gọi là: khe Su, khe Máng, Hau Hau. Trong các dòng “tiểu khê” quen thuộc ấy, dân ở đây vẫn rất quý khe Hau Hau, bởi nước trong vắt, được lọc từ trong khe đá. Dòng nước khe này ít khi cạn, xanh như mắt ngọc, uống mát và ngọt. Một lần, có ông vua đi qua, dân đưa cung tiến bầu nước này, được vua tấm tắc khen.



< Ngoài cùng là núi Long Ngâm – nơi rồng vươn ra biển.

Trầm tích về dãy núi Nam Giới gắn với những di tích lịch sử văn hóa không chỉ là niềm tự hào cho người dân vùng hạ lưu huyện Thạch Hà mà còn là điểm sáng du lịch của Hà Tĩnh từ bao đời nay. Núi còn là “điểm tựa” cho cư dân những vùng bãi ngang như Thạch Bàn, Thạch Đỉnh trong việc cung cấp nguồn nước sạch về tận mỗi gia đình, qua hệ thống đường ống được lắp đặt theo chương trình nước sạch quốc gia. Tiếc thay, nhiều năm qua, nạn khai thác đá bừa bãi tại quần thể núi Nam Giới đang làm cho cảnh quan nơi đây bị xâm hại nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho con người, nhưng vẫn chưa được khắc phục triệt để.

Theo Phan Thế Cải (Hà Tĩnh 24h)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Núi Hàm Rồng (Sapa- Lào Cai)


Núi Hàm Rồng là mỏm đá vươn cao tựa đầu rồng, núi thuộc dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, thuộc huyện SaPa, tỉnh Lào Cai, cách thành phố Lào Cai 33km.

Núi Hàm Rồng nằm phía sau nhà thờ đá Sa Pa, ngay trung tâm thị trấn đang trở thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn nhất Vùng Du lịch Sa Pa.
Từ chân nhà thờ Sa Pa lên đến “sân mây” núi Hàm Rồng có độ cao 1.800 mét so với mực nước biển, chỉ dài hơn một cây số nhưng du khách phải leo bộ gần một giờ đồng hồ mới đến nơi, đây là điểm ngắm cảnh đẹp nhất Sa Pa.



Dọc đường lên Hàm Rồng, du khách sẽ có cơ hội khám phá nhiều cảnh đẹp và loài hoa lạ của miền đất ôn đới Sa Pa. Đặc biệt là vườn hoa phong lan gồm nhiều loài lan quý hiếm của núi rừng Hoàng Liên và vùng núi phía Bắc Việt Nam được di thực về ươm trồng nơi đây.

Vườn hoa mang tên Châu Âu nằm giữa khu vực chính của khu du lịch sinh thái núi Hàm Rồng cũng có khá nhiều loài hoa đẹp và độc đáo của xứ lạnh được di thực từ nước ngoài về trồng thành công ở nơi đây như hoacẩm tú cầu, hoa thạch anh tím, hoa anh đào Nhật Bản...



Tới thăm Hàm Rồng vào mùa xuân du khách sẽ có cơ hội thưởng ngoạn phong cảnh vườn đào phai cổ thụ 30 – 40 tuổi với những cây đào rêu phong nở hoa rực hồng.

Khu Du lịch sinh thái núi Hàm Rồng có 3 điểm có thể ngắm toàn cảnh thị trấn Sa Pa được các nghệ sỹ nhiếp ảnh và nhiều du khách chọn là điểm đến không thể thiếu mỗi dịp khi tới thăm “Thành phố trong sương”.

Đó là các điểm: Vườn lan 1, ở đây ngắm toàn cảnh nhà thờ cổ Sa Pa lâu nay được coi là biểu tượng hình ảnh du lịch SaPa chuẩn bị tròn 100 tuổi ẩn mình bên những rặng sa mu đại thụ đẹp như tranh thủy mạc; điểm ngắm cảnh thứ 2, Trạm viễn thông Sa Pa cao gần 2000 mét so với mực nước biển, từ đây du khách có thể ngắm đỉnh núi Phan Si Păng cao 3.143 mét được mệnh danh là “Nóc nhà Đông Dương”; điểm ngắm cảnh thứ 3 là sân mây núi Hàm Rồng, tại đây vào ngày đẹp trời du khách có cơ hội ngắm nhìn trọn vẹn toàn cảnh “Thành phố trong sương” thơ mộng.

Được biết, đã có nhiều tác phẩm ảnh nghệ thuật đoạt giải thưởng quốc gia và quốc tế của các nghệ sỹ nhiếp ảnh Võ An Ninh, Hoàng Thế Nhiệm, Minh Lộc, Nguyễn Thọ, Minh Được, Vũ Anh Tuấn, Lê Nguyễn.... được chụp từ khu du lịch sinh thái Hàm Rồng (Sa Pa).

Một số địa danh không thể không nói đến khi lên thăm Hàm Rồng đó là các khu núi đá tự nhiên hình thành cách ngày nay hàng triệu năm được ví như “Tiểu Thạch Lâm”, “Tiểu Hạ Long”.

Khu Du lịch sinh thái Hàm Rồng hiện nay do Công ty Cổ phần du lịch Cao su Hàm Rồng - Sa Pa quản lý; công ty này còn tổ chức chức Lễ hội trên mây Sa Pa vào dịp lễ 30/4 và 1/5 hàng năm thu hút hàng vạn lượt du khách trong và ngoài nước tới thăm quan.

Nếu có dịp lên thăm Sa Pa, mời bạn dành thời gian lên thăm Khu Du lịch sinh thái Hàm Rồng để trực tiếp cảm nhận vẻ đẹp độc đáo và sự hấp dẫn ở đây mà bài viết này chưa miêu tả hết được. Không những được tận hưởng cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ của đất trời mà còn được thả hồn vào không gian để trò chuyện với đá, với cỏ cây, với gió hoang và mây trời để được sống trong khung cảnh thần tiên giữa chốn trần gian.

Du lịch, GO! 

Mường Lống- Bản làng Vùng Cao (Mường Xén-Nghệ An)


Nằm trên đỉnh núi có độ cao 1485m, giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ huyền thoại. Xã Mường Lống (huyện Mường Xén - Nghệ An) được coi như một Sapa của miền trung, nơi nổi niếng với nắng nóng và gió Lào.

Mường Lống được hình thành cách đây hàng trăm năm do một số người Mông trong quá trình di cư đã phát hiện mảnh đất này màu mỡ, khí hậu ôn hòa nên quyết định dừng chân nơi đây mở đất.
Hầu hết người dân Mường Lống đều là dân tộc Mông. Vào những năm 80 của thế kỷ trước, đây là một vùng đất nghèo cằn cỗi, chưa có trụ sở, rừng núi hoang vu, đường đi lại chưa có, bà con phải dùng ngựa để gùi hàng.



< Một góc Mường Lống hôm nay.

Chúng tôi đến Mường Lống vào một ngày cuối cùng của tháng 4, giữa cái nắng nóng như thiêu như đốt của miền Trung và cái không khí ngột ngạt của từng cơn gió Lào nóng bỏng.

Mường Lống hiện lên như một ốc đảo nhỏ nằm giữa sa mạc mênh mông rộng lớn, xanh mát, dịu êm và du dương tiếng gió thổi qua những tán lá rừng.



< Để đến được nơi đây, phải vượt qua hơn 50km đường đá và bùn đất lầy lộitừ trị trấn Mường Xén.
Nhưng chính điều này tạo nên sức hút đối với những người ưa thích khám phá.


Để đến được xã Mường Lống, đoàn chúng tôi đi thẳng từ trung tâm thành phố Hà Nội đến Xuân Mai rồi rẽ trái để đi vào đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Vượt qua hành trình gần 300km, chúng tôi đến thị trấn Khai Sơn (huyện Anh Sơn - Nghệ An) rồi lại rẽ phải theo đường 7, đi tiếp 173 km nữa để đến thị trấn Mường Xén (huyện Mường Xén - Nghệ An). Từ thị trấn Mường Xén, qua sự chỉ dẫn của người dân địa phương, chúng tôi đi tiếp qua hơn 50km đường đất ven theo những con đèo nhỏ nằm vắt vẻo trên núi như những dải lụa vắt ngang núi rừng Trường Sơn hùng vĩ.



Cuối cùng, chúng tôi đã được đặt chân đến xã Mường Lống, nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc Mông. Với hơn 180 hộ dân và gần 1000 nhân khẩu, Mường Lống nằm trên một đỉnh núi cao, nơi một ngày có đến 4 mùa.

Ở đây, quanh năm hoa chen nhau đua khoe sắc, từng cây mận, cây đào trĩu quả như mời gọi lữ khách lỡ bước đến nơi đây.



< Mường Lống hiện lên từ xa giữa trong màu nắng vàng và màu xanh của núi rừng.

Nghe chúng tôi kể về đoạn đường khổ ải từ Mường Xén (Kỳ Sơn, Nghệ An) vào Mường Lống, ông Và Chá Xà - cán bộ UBND xã Mường Lống cười an ủi: Ăn thua chi, giờ rứa là sướng rồi đó, ngày trước đồng bào ai dám mơ có đường ô tô vào đây. Rồi ông kể: Năm 1990, Nhà nước cho mở con đường huyện lộ từ Mường Xén vào Mường Lống, đồng bào không ai tin, rủ nhau chạy ra xem ô tô rồi há hốc mồm ngạc nhiên, vì không hiểu sao “nó” lại vào đây được.



Mường Lống còn hoang sơ, nghèo nàn, thậm chí có thời gian từng là điểm nóng về ma tuý của tỉnh Nghệ An.

Trước đây, nhắc đến Mường Lống người ta nghĩ đến thủ phủ của cây thuốc phiện. Đặc biệt là từ những năm 90, nhà nhà trồng thuốc phiện, dân trồng thuốc phiện, cán bộ cũng trồng thuốc phiện, không chỉ bà con trong vùng mà đồng bào ở vùng khác cũng đua nhau đến vùng đất này trồng loài cây có màu hoa rất đẹp ấy vì Mường Lống được coi là vùng đất trồng cây thuốc phiện tốt nhất, năng suất nhất ở Kỳ Sơn.



< Giữa cái nắng chán hoà, những ngôi nhà và chủ nhân của nó được bao phủ bởi các tán lá rừng, những hàng mận, hàng đào mọc khắp nơi.

Thời bấy giờ, nếu đến miền rẻo cao này vào mùa xuân sẽ thấy một vùng trời ngập tím màu hoa anh túc. Có một điều lạ là bà con ở đây trồng thuốc phiện nhưng không mấy ai nghiện ma túy.



Mùa trồng thuốc phiện bắt đầu từ tháng chín tháng mười, đến tháng ba năm sau thì thu hoạch.

Thu hoạch xong có người đến tận nhà thu mua, đóng vào bao tải xếp lên lưng ngựa chở đi đâu bà con không ai rõ. Mỗi hecta cây trồng như vậy thu hoạch được từ 3 - 4 kg thuốc, mỗi kg bán được từ 4 - 5 triệu đồng (năm 1997).



< Vào từng nhà, họ rất niềm nở đón chào...

Nhưng vài năm trở lại đây, Mường Lống đã đổi khác rất nhiều, hầu như không còn ma tuý nữa, bởi ở đây có một đội ngũ lãnh đạo trẻ, tâm huyết với sự nghiệp đổi mới quê hương.

Với tư tưởng thoáng và đổi mới của các cấp chính quyền, quyết tâm dẹp bỏ ma tuý của người dân, cùng với địa thế và cảnh đẹp của mình, chỉ một thời gian nữa thôi nơi đây sẽ là một điểm đến không thể thiếu của những người yêu thích du lịch.

Du lịch, GO!

Nhà Thờ Đá Sapa (Lào Cai)


Tọa lạc ngay trung tâm thị trấn Sapa, nhà thờ Đá Sapa được xây dựng từ năm 1895 được coi là một dấu ấn kiến trúc cổ toàn vẹn nhất của người Pháp còn sót lại. Nhà thờ đã được tôn tạo và bảo tồn, trở thành một hình ảnh không thể thiếu khi nhắc đến thị trấn Sa Pa mù sương.

Nhà thờ có khá nhiều tên gọi do thói quen của người dân và khách du lịch như Nhà thờ đá cổ Sapa, nhà thờ Đức Mẹ Mân côi, nhà thờ đá...v.v. Nhà thờ được xây từ thời Pháp thuộc, là một trong những dấu ấn kiến trúc của người Pháp còn lại vẹn toàn nhất. Theo một số ghi chép lại, nhà thờ đã được xây dựng có mặt tiền quay về hướng Đông tức là hướng mặt trời mọc. Có người giải thích cho rằng đó là hướng đón nguồn sáng của Thiên Chúa. Ở khu có tháp chuông, tức là phía cuối nhà thơ, được quay về hướng Tây có ý nghĩa chính là nơi sinh thành của Chúa Kitô.



Hình dạng và kiến trúc của Nhà thờ được xây theo hình thập giá theo kiến trúc Gotic La Mã. Kiến trúc đó thể hiện ở mái nhà, tháp chuông, vòm cuốn… đều là hình chóp tạo cho công trình nét bay bổng thanh thoát. Toàn bộ nhà thờ được xây bằng đá đẽo (tường, nền nhà, tháp chuông, sân nhà thờ, bờ kè xung quanh) được liên kết với nhau bằng hỗn hợp của cát, vôi và mật mía. Phần tường của cánh thánh giá bên phải được tạo nhám như nhũ đá chảy xuống làm tăng thêm vẻ đẹp tự nhiên cho di tích. Mái nhà lợp ngói, trần nhà bằng vôi rơm (nay làm mới). Đặc biệt trần ở phần gác chuông (gần quả chuông) là hỗn hợp của vôi, rơm, sắt... nguyên thủy chưa sửa chữa lần nào.



Với tổng diện tích của khuôn viên nhà thờ hơn 6.000m², nhà thờ Sa Pa có đủ chỗ cho việc bố trí các khu bao gồm: Khu nhà thờ, dẫy nhà xứ, nhà ở của thầy tu, nhà chăn nuôi, nhà thiên thần, phần sân phía trước, hàng rào, khu Vườn Thánh. Dãy nhà xứ xây song song với khu nhà thờ gồm 5 gian.

Khu nhà thờ gồm 7 gian rộng hơn 500m², phần tháp chuông cao 20 m, trong tháp có quả chuông cao 1,5m đúc năm 1932 nặng 500 kg, tiếng vang trong vòng bán kính gần 1km. Hiện, trên bề mặt của chuông còn rõ nét ghi đúc, số người quyên góp tiền đúc chuông… Phần giá đỡ chuông bằng gỗ pơmu vẫn giữ nguyên sau lần trùng tu.



Ngôi nhà thờ này nằm ngay giữa Trung tâm thị trấn du lịch Sapa với phía sau là núi Hàm Rồng che chắn, phía trước là khu đất rộng, bằng phẳng, có thể phát triển nhiều công trình văn hóa phục vụ cho các hoạt động xã hội.

Hằng ngày, người dân tộc tập trung đông đúc ở đây mua bán, trao đổi hàng hóa. Đây cũng chính là nơi mà thứ 7 hàng tuần réo rắt tiếng khèn gọi bạn của những đôi trai gái trong phiên chợ tình mang đầy nét văn hóa dân tộc và hơi thở núi rừng Tây Bắc.



Hai công trình kiến trúc khác gần đó cũng do người Pháp xây dựng là biệt thự Chủ Cầu (nay là khách sạn Hoàng Liên) và khu huyện ủy cũ (nay là trụ sở của Trung tâm Thông tin Du lịch Lào Cai) tạo thành một hình tam giác cân đối với kiến trúc riêng biệt mang phong cách Pháp.

Nhà thờ Mân côi giữa khu trung tâm Sa Pa là điểm hẹn của nhiều khách du lich sapa mỗi khi có dịp đến đây. Tuy qua một số lần trùng tu, cải tạo do chiến tranh và sự tàn phá khốc liệt của thiên nhiên nhưng nhà thờ vẫn giữ được nét duyên dáng và hồn của công trình kiến trúc tôn giáo.

Theo: Du lịch, GO! 

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

Núi Nghiêu Sơn Lĩnh (Cao Bằng)


Sau khi Trần Dụ Tông mất, nhà Trần suy vong. Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, lập ra nhà Hồ. Quý Ly có nhiều chính sách cải cách đất nước không hợp với lòng dân. Lòng dân đã ly tán, nay ly tán thêm. Phong kiến phương Bắc là, nhà Minh lợi dụng điều đó cướp nước ta. Chúng đặt ách đô hộ tàn bạo. Chúng tiến chiếm Cao Bằng, đến đâu cướp phá tàn bạo, giết người, cướp của; nhân dân cả nước phẫn nộ, nhất tề đứng lên đánh giặc cứu nước.

Ở Cao Bằng có 2 hào trưởng đó là Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái kết bạn từ lâu - đứng ra tụ tập dân chúng trong miền đánh giặc. Nông Đắc Thái giỏi việc cung nỏ, có đội quân hàng trăm người, bắn trăm phát trăm trúng. Bế Khắc Thiệu giỏi việc quân, được tôn làm chủ tướng, bàn và chọn dãy núi Nghiêu Sơn Lĩnh làm nơi đóng quân, luyện quân đánh giặc; chọn vùng Phúc Tăng - Kỳ Chỉ làm hậu phương sản xuất lương thực nuôi quân và là nơi dấu quân. Hàng nghìn trai tráng theo cờ khởi nghĩa đánh giặc.

Vùng núi Nghiêu Sơn Lĩnh thuở đó cây cối âm u rậm rạp, là một dải núi nằm bên bờ hữu ngạn sông Bằng Giang. Có 2 ngọn núi cao là Khau Thước ở phía đông, Khau Khiêu ở phía tây. Chen giữa 2 ngọn núi là những khe sâu, có dải đồi trải rộng đến thành Nà Lữ, địa thế rất hiểm trở. Bế Khắc Thiệu cho san ngọn núi Khau Thước - mặt núi trở nên bằng phẳng có chiều dài gần 500 m, chiều rộng gần 100 m để dựng nhà kiên cố làm nơi trú quân, luyện quân.



Ngày nay còn di tích, có 2 đường lũy chính chạy dài hai phía quanh núi, chân thành rộng 15 m, thành cao 5 m. Ngọn Khau Khiêu cao ngất làm tiền tiêu quan sát giặc thù. Lại cho dân chúng và nghĩa binh khai phá đất đai vùng Phúc Tăng, Kỳ Chỉ thành ruộng rẫy cấy lúa, trồng ngô, lấy lương thực nuôi quân, dân. Dulichgo

Bế Khắc Thiệu nhiều lần đem quân vây thành Nà Lữ. Quân Minh nao núng, trốn hết về đóng ở Mộc Mã (thị xã Cao Bằng ngày nay). Nhiều lần, quân Minh đến vây thành Khau Thước, bị đội quân cung nỏ của Nông Đắc Thái bắn diệt nên chúng rất sợ hãi. Quân giặc thiếu lương ăn đã cướp thóc lúa, trâu bò, lợn của dân chúng. Nghĩa binh, dân chúng hợp lực đánh chặn lại. Chúng bỏ chạy, Bế Khắc Thiệu cho lập các dẻ như làng chiến đấu làm nơi giấu lương thực, trâu bò, tránh ẩn cho phụ nữ, người già, trẻ em, có dân quân bảo vệ phòng khi kẻ thù kéo đến cướp phá.



Giặc Minh lại cho tăng quân đến một vệ (50.000 người) đóng khắp nơi, trở lại chiếm thành Nà Lữ. Quân giặc càng đông, càng thiếu lương thực. Chúng khốn đốn, xin đến đàm phán với Bế Khắc Thiệu nhưng bị từ chối. Một đêm cuối thu năm Bính Ngọ (1426), tướng giặc Trình Dương đem đại quân, có kẻ gian dẫn đường, từ thành Nà Lữ, vượt qua Kẻ Chẵng, Roỏng Nguổc men theo chân núi phía tây của ngọn núi Khau Khiêu, tiến vào thung lũng Nà Khuổi, có ý định đánh tập hậu vào doanh trại nghĩa quân ở Khau Thước. Nghĩa quân phát hiện, báo cáo lên chủ tướng, Bế Khắc Thiệu cho quân mai phục dầy đặc hai ven núi thung lũng Nà Khuổi. Dulichgo



Khi quân địch lọt vào trận địa, Bế Khắc Thiệu phát lệnh tấn công, quân thù không kịp trở tay chết như rạ, kêu la thất thanh, tiếng khóc vang động cả khe thung lũng Nà Khuổi. Tướng Trình Dương rất sợ tay cung nỏ của Nông Đắc Thái, mặc áo giáp, đeo mặt na chỉ còn hở ra 2 con mắt, lọt vào trận địa, Nông Đắc Thái phát hiện, bật dây cung, một mũi tên xuyên thẳng vào mắt phải của Trình Dương, quân Minh dìu Trình Dương ra khỏi trận địa... Trời sáng, nghĩa quân thu dọn chiến trường, mới biết kẻ thù bị giết đến 4.000 tên. Xác giặc ngổn ngang, máu giặc chảy đỏ cả dòng suối Nà Khuổi. Nghĩa quân truy giặc đến thành Nà Lữ... Thành đã bỏ ngỏ, quân giặc đã trốn hết. Nhiều tin túc đưa về, quân địch đã trốn hết về nước. Cuối mùa thu năm 1426, Cao Bằng đã sạch bóng quân thù, hoàn toàn giải phóng.



Bế Khắc Thiệu xưng làm Châu Mục cai quản miền đất Cao Bằng; Nông Đắc Thái được coi việc quân. Nhớ công lao của Bế Khắc Thiệu, dân chúng đổi tên Khau Thước thành tên Khau Khắc Thiệu.

Nay ngọn núi này trong dải núi Nghiêu Sơn Linh nằm sừng sưng giữa lòng máng sông Bằng Giang. Là giao điểm của ba xã: Hồng Việt, Hoàng Tung, Bế Triều. Nghiêu Sơn Lĩnh là một thắng cảnh, một di tích lịch sử đáng ghi nhớ.

Theo E-cadao.com, ảnh internet
Du lịch, GO!

Chinh phục nóc nhà Pu si Lung(Lai Châu)


Pu Si Lung (3.076m) là khối núi nằm ở tây bắc tỉnh Lai Châu, giữa Sông Đà và thượng nguồn sông Nậm Na (phụ lưu tả ngạn Sông Đà) tại biên giới Việt - Trung. Cụm núi cách Mường Tè khoảng 28 km về phía tây bắc, có diện tích khoảng 2.400 km2 với đỉnh cao 3.076 m (đứng thứ ba của Việt Nam về độ cao, sau Phansipan và Phu Ta Leng).

< Pu Si Lung chụp lại ở cao độ khoảng chừng 2600m. Để chinh phục Pu Si Lung phải lên bằng một sườn khác chứ không phải có đường nối từ mốc 42 như trên google map (ảnh Quycoctu).

Theo nghiên cứu của nhiều bạn, thực chất thì đỉnh Pu Si Lung thực sự mới là đỉnh núi cao nhất Việt Nam với độ cao 3.775m chứ không phải 3.143m của ngọn Phan Xi Păng. Tiếc rằng toàn bộ khu vực có đỉnh núi cao 3.775m này hiện đang nằm bên phần đất mà Trung Quốc gọi là của họ sau chiến tranh 1979. Phần sát Sông Đà thuộc huyện Mường Tè - Lai Châu chỉ còn lại đỉnh cao thứ nhì là 3.076m (forum Phượt).



(VNE) - Là ngọn núi hoang sơ, bí ẩn và quyến rũ bậc nhất Việt Nam, đỉnh Pu Si Lung huyền thoại thuộc địa phận tỉnh Lai Châu luôn là điểm đến trong mơ của các phượt thủ ưa khám phá.

Vùng Tây Bắc là nơi có hàng vạn núi cao sừng sững bao đời như bức tường thành che chở cho nước Việt Nam. Trên biên giới Việt - Trung, đỉnh Pu Si Lung nằm ở độ cao hơn 3.000 m là ngọn núi cao nhất án ngữ nơi biên cương Tổ quốc. Đoàn chúng tôi thực hiện hành trình chinh phục điểm cao nhiều ý nghĩa này giữa những ngày miền Bắc đang chìm trong giá lạnh...



Lên lịch trình kỹ càng và liên hệ trước với các cơ quan chức năng, chúng tôi mang giấy công tác tới trình báo tại Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Lai Châu, rồi lại cầm giấy giới thiệu vượt đường đèo núi tới đồn biên phòng Pa Vệ Sủ, vùng sâu nhất của huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.



Hành trình đường trường gian nan là vậy nhưng chúng tôi được khích lệ tinh thần rất nhiều khi nhận sự tiếp đón và giúp đỡ từ đồn biên phòng cùng người dân nơi đây. Chúng tôi tới bản Sín Chải A, gặp gỡ trưởng bản và dự bữa cơm Tết thân mật của người La Hủ. Dulichgo



Rời bản Sín Chải A, chúng tôi vào bìa rừng và để xe lại đây, bắt đầu hành trình leo núi gian nan. Mùa này, những cây lau rậm rạp nở bông trắng muốt, trập trùng trong nắng gió khiến đoàn lữ khách ngẩn ngơ.



Hành trình dọc theo những con suối lớn với nhiều ghềnh đá dữ cùng các cây cầu đơn sơ làm từ thân cây bị gãy từ mùa lũ khiến chúng tôi phải tháo giầy để lội qua. Những ghềnh đá lô nhô, trơn trượt, giá lạnh làm bàn chân ai cũng tê cóng và phải rất cẩn thận nếu không muốn bị ướt.



Đêm giữa thung lũng, bốn bề là núi rừng hoang dã, bên bếp lửa bập bùng, tiếng suối róc rách còn ánh sáng bàng bạc của trăng sao trên đỉnh đầu.



Khung cảnh núi rừng tuyệt đẹp, không khí trong lành với những đám mây sương lảng bảng thật kỳ ảo. Đôi khi, chúng tôi ngỡ mình lạc bước lúc vào những khu đồi hoa dại trắng muốt từ thân tới bông. Bước chân lại dẫm lên những thảm lá khô hay bông hoa nhỏ xinh và ngước mắt lên là một bầu trời đỏ rực màu hoa hồng quang.



Đường thật dài, hết lên lại xuống nhưng leo mãi rồi cũng tới đích. Chúng tôi reo lên sung sướng khi thấy cột mốc đứng đó, sừng sững trên nền bê tông được gia cố chắc chắn. Các anh biên phòng kiểm tra tình trạng mốc giới, thực hiện nghi lễ thiêng là chào mốc giới và cùng chúng tôi chụp hình lưu niệm. Máy GPS của tôi xác nhận cao độ 2.866 m. Đây là một trong những cột mốc biên giới cao nhất trên lãnh thổ Việt Nam.



Trời chuyển tối, không khí lạnh cùng sương mù nhiều khiến chúng tôi biết mình phải nhanh chóng khởi hành về lán nghỉ cho dù phải đi trong bóng đêm. Đoàn chúng tôi bao gồm những đôi chân có kinh nghiệm, tôi luyện qua không ít những ngọn núi cao nhưng quả thực hành trình lần này là một thử thách gian nan, đáng nhớ và nhiều ý nghĩa.Dulichgo



Từ đây lên đỉnh Pu Si Lung còn cả một hành trình dài. Đi trên hành lang biên giới nên phải rất cẩn thận bám nhau theo các anh biên phòng để không lạc sang nước bạn Trung Quốc. Qua rừng trúc rồi tới khu rừng nguyên sinh với thảm thực vật đa dạng, ẩm ướt tới nỗi mỗi thân cây đều phủ trên mình một màu xanh ma mị của rêu phong.



Cả đoàn lấy cờ Tổ quốc và chụp hình lưu niệm với niềm tự hào dâng trào khi chinh phục thành công ngọn núi được mệnh danh là nóc nhà biên giới này. Không tự hào sao được khi trên những đỉnh cao như vậy, cha ông ta đã từng ngàn năm chiến đấu bảo vệ mảnh đất quê hương.

Theo Hachi8 (Vnexpress)
Du lịch, GO!